Đề thi tham khảo giữa học kì 1 Văn 10 - Đề số 4
I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau:
Cánh buồm trôi như một sự vô tình
Trên dòng sông chiếc sà lan chìm một nửa
Giàn mướp trước nhà đã đổ
Hoa mướp vàng vô tư
Ngọn rau sam trên gạch vỡ vẫn chua
Cây mào gà nhởn nhơ trước gió…
Và chúng tôi đi trên gạch vỡ
Không khóc than như thể chẳng đau thương.
Chúng tôi hiểu sâu xa về sự vật quanh mình
Cánh buồn trôi cho dòng sông sống lại
Hoa mướp vàng để dựng giàn mướp dậy
Rau sam chua cho đất biết đất đang còn…
Người chết sẽ chẳng bằng lòng nếu chúng tôi quá đau thương
Chúng tôi sống thay cho người đã chết.
Hải Phòng, 1-9-1972
(Những sự vật còn sống, Xuân Quỳnh, in trong Không bao giờ là cuối,
Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2017)
Văn bản trên được viết theo thể thơ nào?
Dựa vào đặc điểm số tiếng trong mỗi dòng thơ và cách tổ chức câu thơ để xác định thể thơ.
Văn bản được viết theo thể thơ tự do.
Xác định chủ thể trữ tình ở văn bản trên?
Xác định đại từ xưng hô hoặc hình thức biểu hiện của chủ thể trữ tình trong văn bản.
Chủ thể trữ tình trong bài thơ là "chúng tôi".
Phân tích tác dụng của biện pháp lặp cấu trúc trong ba dòng thơ sau:
Cánh buồn trôi cho dòng sông sống lại
Hoa mướp vàng để dựng giàn mướp dậy
Rau sam chua cho đất biết đất đang còn…
Vận dụng kiến thức về các biện pháp tu từ để gọi tên, chỉ ra biểu hiện và phân tích tác dụng
- Điệp cấu trúc: “... cho …”
- Tác dụng:
+ Tạo nhịp điệu nhịp nhàng, giàu sức gợi cho đoạn thơ.
+ Nhấn mạnh sự hồi sinh, sức sống bền bỉ của thiên nhiên sau chiến tranh; mỗi sự vật đều mang ý nghĩa hồi sinh, góp phần tái tạo sự sống.
+ Thể hiện niềm tin, tinh thần lạc quan và ý chí vượt qua đau thương, hướng đến tương lai của con người.
Xác định chủ đề của văn bản?
Khái quát nội dung chính của văn bản, từ đó xác định tư tưởng, thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm.
Chủ đề của văn bản là: Ca ngợi sức sống mãnh liệt của thiên nhiên và con người sau những mất mát của chiến tranh
Từ nội dung văn bản, anh/ chị có suy nghĩ gì về sức mạnh của tinh thần lạc quan trong cuộc sống?
Rút ra thông điệp từ nội dung văn bản, kết hợp với nhận thức và trải nghiệm bản thân để trình bày suy nghĩ.
Có thể trình bày theo nhiều cách, sau đây là gợi ý:
- Tinh thần lạc quan giúp con người có thêm nghị lực để vượt qua khó khăn, mất mát.
- Lạc quan giúp con người giữ vững niềm tin, không gục ngã trước nghịch cảnh và hướng đến tương lai.
- Tinh thần lạc quan còn lan tỏa năng lượng tích cực, góp phần xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn.
- Mỗi người cần rèn luyện bản lĩnh, nuôi dưỡng niềm tin và thái độ sống tích cực trước mọi thử thách.
II. VIẾT
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích hình tượng nhân vật “tôi” trong văn bản sau:
(Lược một đoạn: nhân vật xưng “tôi” – là một nhà văn – mời mấy người bạn văn về nhà mình chơi, rồi sau đó cứ buồn bực mãi vì đã để cho bạn bè thấy căn nhà tồi tàn như túp lều của mình. Từ lâu, nhân vật “tôi” đã có ý định làm một cái nhà mới, nhưng kinh tế eo hẹp, mà giá tre gỗ thì cứ vùn vụt tăng lên. Thế rồi một trận bão đến, căn nhà bị đổ sập. Trong cơn quẫn bách, nhân vật “tôi” cùng vợ quyết định đánh liều vay mượn để làm nhà mới).
Nhưng sau một trận bão, không thiếu gì người phải nghĩ liều như tôi. Cũng vì thế mà tôi đã mua được một cái nhà rẻ quá,…. Một cái nhà gỗ, có ba trăm bạc. Giá phải, thì năm trăm. May cho tôi lắm. Thì tôi tính: làm nhà tre bây giờ cũng tốn hai trăm đồng.
Kẻ bán nhà là một kẻ nhiều công nợ. Anh ta goá vợ. Anh ta phải nuôi hai đứa con thơ dại. Anh ta lại mới thua xóc đĩa ba, bốn canh mất tất cả đến hai trăm đồng bạc. Nợ người ta đòi rát quá. Trông vào mấy sào mía để bán đi trang trải thì mía đã bị bão làm cho đi tong cả. Anh ta tìm tôi và bảo tôi thế này:
- Tôi nghe nói: chú định làm nhà. Làm nhà tre bây giờ cũng phải hai trăm đồng bạc. Chú cố gắng lên chút nữa, tôi để cái nhà gỗ nhà tôi cho.
- Bao nhiêu thì bác bán?
- Ba trăm, đúng.
Cái giá này hời lắm. Thấy bảo hắn thật thà, tôi ái ngại. Tôi hỏi hắn:
- Bác bán đi làm gì?
- Chẳng làm gì sốt. Tôi trót thua cay quá, chết thì chết, tôi cũng còn phải gỡ. Trường vốn thì dễ gỡ. Tôi bán cái nhà, lấy vài trăm đồng để gỡ vài canh, xem thế nào.
À! Nếu vậy thì tôi chưa lấy chi làm liều. Vay nợ lãi mà mua nhà là một cái liều bắt buộc. Bán nhà để gỡ bạc mới là một cái liều thục mạng. Đã liều thì phải chết. Chẳng chết vì tay tôi thì chết vì tay người khác. Dù vậy, tôi cũng chưa nỡ cầm dao đâm hắn. Thành thực hay giả trá? Tôi đã can kẻ liều lĩnh kia:
- Tôi tưởng bác không muốn ở nhà, hoặc cần tiền buôn bán thì mới bán nhà, chứ nếu chỉ bán để đi đánh bạc thôi thì tôi can bác. Vào chiếu bạc, khó mà biết trước, tôi chỉ sợ gỡ ra chẳng được, bác lại bậm mãi vào thì sao?
- Không có lí nào như vậy. Trước tôi thua, chỉ vì ít vốn, không dám đuổi. Trường vốn, không đời nào thua. Chú lấy giùm được là phần nhất, bởi vì tôi biết tiền chú sẵn, có thể xếp cho tôi chóng vánh. Nếu như không muốn lấy thì tôi để cho người khác.
Tôi ngẫm nghĩ: hắn đã muốn chết thì cho hắn chết. Tôi có quyền gì mà cấm hắn? Hắn không bán cho tôi thì bán cho người khác. Tôi để lỡ một dịp tốt là tôi ngu. Vậy thì tôi mua cái nhà.
Tôi chạy ngược chạy xuôi. Chỗ thì lãi năm phân. Chỗ thì lãi sáu phân. Cùng quá, tám phân cũng lấy liều. Chỉ hôm sau là tôi đã có đủ ba trăm bạc. Đôi bên làm giấy má xong xuôi. Tôi trao tiền cho hắn. Vợ tôi đi mượn thợ để ngày mai dỡ nhà.
Chưa có thợ. Sau ngày bão, thợ làm nhà bận lắm. Cái nhà ba bốn hôm sau vẫn chưa dỡ được. Một người bà con với tôi, một buổi tối đến nhà ông nhạc tôi mà bảo tôi:
- Anh nên liệu dỡ phắt về. Ba trăm bạc của anh, nó nướng hết cả rồi. Vừa ở nhà ra, chúng nó biết nó có một số tiền to, chúng nó đã thịt cu cậu hơn trăm bạc. Cu cậu còn nhiều nợ lắm. Vườn cũng cố mất rồi. Nếu anh không dỡ nhà ngay, nó thua quá, đi đâu mất sợ lôi thôi cho mình.
Có thể. Nếu tôi chậm dỡ, sợ người khác hớt tay trên. Đã đành rằng mình mua bán có làm văn tự. Nhưng tiền tôi đã cạn. Không lẽ lúc ấy còn kiện nhau. Vậy tôi phải cố thuê cho được thợ. Chỉ ngày mai là dỡ luôn.
Ngày hôm sau, chúng tôi đến nhà hắn thì thấy hắn đang nằm thườn trên một cái giường tre, chiếu rách và bẩn thỉu. Đứa bé ngồi ngay dưới đất ôm lấy cái chân giường, rên. Nó đau bụng từ sáng sớm. Đứa con lớn vừa cạu nhạu vừa đấm lưng em thùm thụp. Tôi chào hắn. Hắn khẽ hé môi đáp lại. Chúng tôi nhìn nhau ngượng nghịu như hai kẻ thù nhìn nhau. Sao lại thế? Tôi không dám nhìn lâu hai đứa con của hắn. Hình như tôi thẹn với lòng tôi thế nào…
Tôi nhìn xuống đất mà bảo hắn:
- Bác làm ơn cho tôi dọn đồ đạc để cho người ta dỡ…
Hắn cười chua chát:
- Đồ đạc thì có gì mà dọn? Chỉ có một cái giường này. Cứ quăng bố nó ra ngoài kia cho tôi, rồi dỡ đi.
Hắn đứng dậy mà bảo con:
- Chúng mày cũng đứng lên. Sang nhà bác Vi nằm nhờ.
Con chị phải quát, gắt gỏng với em một lúc, hai đứa mới lếch thếch cõng được nhau sang nhà bác Vi. Vẫn một đứa lạu bà lạu bạu, một đứa oằn oại rên la. Thợ trèo lên mái, dỡ tranh quăng xuống. Tôi ngồi ở sân, trông họ.
Một lúc sau, chẳng biết đã gửi em cho ai được, đứa con gái lân la gần tôi, xem dỡ nhà. […]
Những mè, rui đã xong rồi. Người thợ mộc bắt đầu tháo gỗ. Tiếng dùi đục kêu chan chát. Những tiếng rắn chắc vang lên, lộng óc. Tôi thấy con bé bừng mắt. Nó không nhe răng ra nữa. Đôi môi nó bụm lại. Hai má nó phình ra một chút. Cứ thế, nó chẳng nói chẳng rằng, chạy bình bịch sang nhà hàng xóm. Nó định làm gì vậy? Lòng tôi thắc mắc nỗi lo không rõ rệt. Bỗng tôi nghe một tiếng trẻ con khóc nức nở và hờ:
- Mẹ ơi!…
Tim tôi động một cái giống như bước hụt. Rồi nó đập loạng choạng. Tôi hơi lảo đảo. Bây giờ thì tôi không lẩn trốn những ý nghĩ của tôi được nữa. Tôi ác quá! Tôi ác quá! Tôi phải thú với tôi nhiều rồi…
Phải, tôi ác quá…. Rồi đây, hối hận sẽ toả một bóng đen vào trong cái nhà mới của tôi, rộng rãi và sạch sẽ hơn cái trước. Những chiều đông lạnh lẽo, một con thạch sùng nấp trên một cái xà ngang, sẽ tặc lưỡi nhắc cho tôi biết: Tôi ác quá! Tôi ác quá!… Nhưng mà thôi…! Nghĩ ngợi làm gì nữa? Ở cảnh chúng ta lúc này, hạnh phúc cũng chỉ là một cái chăn hẹp. Người này co thì người kia bị hở. Đâu phải tôi muốn tệ? Nhưng biết làm sao được? Ai bảo đời cứ khắt khe vậy? Giá người ta vẫn có thể nghĩ đến mình mà chẳng thiệt gì đến ai! …
(Mua nhà, Nam Cao, in trong Tuyển tập Nam Cao, Nxb Văn học, Hà Nội, 2002)
- Xác định đúng kiểu bài nghị luận phân tích nhân vật trong tác phẩm văn học.
- Đọc kĩ văn bản, phân tích nhân vật thông qua: hoàn cảnh sống, hành động, lời nói, diễn biến tâm lí, xung đột nội tâm và nghệ thuật xây dựng nhân vật.
- Đánh giá ý nghĩa hình tượng nhân vật, tư tưởng nhân đạo của tác phẩm và nghệ thuật của Nam Cao.
1. Mở bài
- Giới thiệu tác giả Nam Cao, truyện ngắn “Mua nhà” và hình tượng nhân vật "tôi" là hình ảnh người trí thức nghèo giàu lòng tự trọng, giàu tình thương nhưng bị hoàn cảnh xô đẩy vào bi kịch của sự giằng xé lương tâm.
2. Thân bài
a. Hoàn cảnh của nhân vật "tôi"
- Là người trí thức nghèo, sống trong căn nhà dột nát, xuống cấp.
- Mong muốn có một ngôi nhà mới để ổn định cuộc sống nhưng điều kiện kinh tế vô cùng khó khăn.
- Sau trận bão, buộc phải vay nợ với lãi suất cao để mua căn nhà gỗ giá rẻ.
=> Hoàn cảnh éo le là nguyên nhân dẫn đến những lựa chọn đầy day dứt của nhân vật.
b. Diễn biến tâm lí đầy giằng xé của nhân vật
- Ban đầu là sự thương cảm, ái ngại đối với người bán nhà:
+ Tìm hiểu hoàn cảnh của người bán: góa vợ, nuôi hai con nhỏ, nợ nần chồng chất.
+ Biết người bán muốn bán nhà để lấy tiền đánh bạc nên chân thành khuyên can.
=> Cho thấy nhân vật là người giàu lòng trắc ẩn, có ý thức đạo đức.
- Sau đó là sự đấu tranh giữa lương tâm và lợi ích của bản thân:
+ Nhận thấy giá căn nhà rất hời, phù hợp với hoàn cảnh của mình.
+ Tự lí giải rằng nếu mình không mua thì người khác cũng sẽ mua.
+ Cuối cùng quyết định mua nhà vì nhu cầu mưu sinh và cuộc sống gia đình.
- Khi chứng kiến cảnh dỡ nhà, bi kịch nội tâm lên đến đỉnh điểm:
+ Xót xa trước cảnh người bán đau yếu, hai đứa con nheo nhóc, bệnh tật.
+ Tiếng đứa bé gọi "Mẹ ơi!" trở thành cú đánh mạnh vào lương tâm nhân vật.
+ Nhân vật liên tục tự kết án mình: "Tôi ác quá! Tôi ác quá!"
=> Ý thức rằng nỗi day dứt ấy sẽ trở thành ám ảnh lâu dài, phủ bóng lên hạnh phúc trong ngôi nhà mới.
⇒ Nhân vật hiện lên là người có lương tri, giàu lòng nhân hậu nhưng rơi vào bi kịch khi phải lựa chọn giữa hạnh phúc của mình và nỗi bất hạnh của người khác.
c. Đánh giá hình tượng nhân vật
- Nhân vật "tôi" tiêu biểu cho người trí thức nghèo trước Cách mạng:
+ Có nhân cách, giàu lòng thương người và luôn sống theo lương tâm.
+ Bị hoàn cảnh nghèo đói, xã hội bất công dồn vào những lựa chọn nghiệt ngã.
- Qua nhân vật, Nam Cao thể hiện:
+ Sự cảm thông sâu sắc với số phận con người nghèo khổ.
+ Niềm trân trọng đối với lương tri và nhân phẩm của con người.
+ Sự phê phán xã hội cũ đã đẩy con người vào những bi kịch đạo đức, nơi "hạnh phúc cũng chỉ là một cái chăn hẹp, người này co thì người kia bị hở".
d. Đặc sắc nghệ thuật
- Xây dựng tình huống truyện giàu kịch tính.
- Miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật tinh tế, chân thực.
- Nghệ thuật độc thoại nội tâm đặc sắc, làm nổi bật bi kịch lương tâm của nhân vật.
- Ngôn ngữ giản dị, gần gũi nhưng giàu sức gợi.
- Giọng điệu vừa khách quan vừa thấm đẫm tính triết lí.
3. Kết bài
- Khẳng định nhân vật "tôi" là hình tượng tiêu biểu cho người trí thức nghèo có lương tri, luôn day dứt trước những lựa chọn nghiệt ngã của cuộc sống.
- Khẳng định giá trị tác phẩm và tài năng tác giả





