Đề thi tham khảo giữa học kì 1 Văn 10 - Đề số 2
I. PHẦN ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau:
Trên sân ga của tuyến đường sắt Nikôlai[1] có hai người bạn cũ gặp nhau: một người béo, một người gầy. Anh béo vừa ăn ở nhà ga xong, môi láng nhẫy bơ như quả đào chín. Người anh ta toát ra mùi rượu nho loại nặng, mùi nước hoa cam. Còn anh gầy thì mới xuống tàu, hai tay lỉnh kỉnh nào vali, nào hộp, nào túi. Người anh ta toát ra mùi thịt ướp, mùi bã cà phê. Sau lưng anh ta là một người đàn bà gầy gò, cằm dài – đó là vợ anh ta, và một cậu học sinh cao lêu nghêu mắt nhíu lại – đó là con trai anh ta.
– Porphiri đấy à? – anh béo kêu lên, khi vừa nhác thấy anh gầy. – Đúng là cậu ư? Ôi, ông bạn thân mến của tôi! Bao nhiêu đông qua hè lại chúng mình không gặp nhau rồi!
– Trời! – anh gầy sửng sốt. – Misa! Bạn từ thuở nhỏ của tôi! Cậu ở đâu ra thế?
Hai người bạn ôm nhau hôn đến ba lần, mắt rưng rưng chăm chăm nhìn nhau. Cả hai đều kinh ngạc một cách đầy thú vị.
– Cậu ạ, – anh gầy bắt đầu nói sau khi hôn xong – Mình quả không ngờ! Đột ngột quá! Nào, cậu nhìn thẳng vào mình xem nào! Ô, trông cậu vẫn đẹp trai như xưa, vẫn lịch thiệp, sang trọng như xưa! Chà, hay thật! À, mà cậu bây giờ thế nào rồi? Giàu không? Lấy vợ chưa? Mình thì có vợ rồi, cậu thấy đấy… Đây, vợ mình đây, Luida, nguyên họ là Vanxenbắc, theo đạo Luyte… Còn đây là con trai mình, Naphanain, học sinh lớp ba. Này con, bác đây là bạn hồi nhỏ của bố đấy! Cùng học phổ thông với nhau đây.
Naphanain ngập ngừng một lát rồi bỏ chiếc mũ mềm xuống.
– Cùng học phổ thông với bố đấy con ạ! – anh gầy nói tiếp – À này, cậu còn nhớ cậu bị chúng nó trêu chọc thế nào không? Chúng nó gọi cậu là Gêrôxtrát[2] vì cậu lấy thuốc lá châm cháy một cuốn sách mượn của thư viện, còn mình thì chúng nó gọi là Ephian[3] vì mình hay mách. Hô… hô… Dạo ấy bọn mình trẻ con thật! Đừng sợ con, Naphanain! Con lại gần bác chút nữa nào… Còn đây là vợ mình; nguyên họ là Vanxenbắc… theo đạo Luyte…
Naphanain suy nghĩ một lát rồi nép vào sau lưng bố.
– Này anh bạn, bây giờ sống ra sao? – anh béo hỏi, nhìn bạn mình với vẻ đầy hoan hỉ. – Làm ở đâu? Thành đạt rồi chứ?
– Ừ, mình cũng có đi làm, anh bạn ạ! Hai năm nay mình là viên chức bậc tám, cũng được mề đay “Xtanixláp”[4]. Lương lậu chẳng đáng là bao… nhưng mà thôi, thây kệ nó! Vợ mình dạy nhạc, mình thì làm thêm tẩu thuốc bằng gỗ. Tẩu đẹp lắm cậu ạ! Mình bán một rúp một cái đấy. Nếu ai mua cả chục hay nhiều hơn thì, cậu biết đấy, có bớt chút ít. Cũng cố sống qua loa thế nào xong thôi. Cậu biết không, trước mình làm ở cục, bây giờ thì mình được chuyển về đây, thăng lên bậc bảy cũng trong ngành đó thôi… Mình sẽ làm ở đây. Còn cậu sao rồi? Chắc là cỡ viên chức bậc năm rồi chứ? Phải không?
– Không đâu, anh bạn ạ, cao hơn thế nữa đấy, – anh béo nói. – Mình là viên chức bậc ba rồi… có hai mề đay của Nhà nước.
Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm… Cả mấy thứ vali, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó… Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Naphanain thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại…
– Dạ, bẩm quan trên, tôi… tôi rất lấy làm hân hạnh ạ. Bạn… nghĩa là bạn… từ thuở nhỏ, thế rồi bỗng nhiên làm chức to thế. Hì hì hì.
– Thôi, cậu đừng nói thế đi! – anh béo cau mặt. – Sao cậu lại giở giọng thế? Mình với cậu là bạn từ thuở nhỏ – việc gì cậu lại giở giọng quan cách thế.
– Dạ bẩm quan… Quan lớn dạy gì kia ạ… – anh gầy cười hì hì, người càng rúm ró hơn. – Quan lớn chiếu cố cho thế này là đội ơn mưa móc cho kẻ bần dân đấy ạ… Dạ bẩm quan trên, thưa đây là con trai tôi Naphanain… và vợ là Luida, theo đạo Luyte đấy ạ…
Anh béo định quở trách điều gì thêm, nhưng gương mặt anh gầy toát ra vẻ kính cẩn, lâng lâng hoan hỉ đến mức anh béo cảm thấy buồn nôn. Anh béo ngoảnh mặt đi và đưa tay từ biệt anh gầy.
Anh gầy nắm ba ngón tay anh béo, cúi gập mình xuống chào và cười lên như một chú tẫu: “Hì hì hì”. Bà vợ mỉm cười. Naphanain kéo chân lại và buông thõng chiếc mũ xuống.
Cả ba người đều sững sờ một cách đầy thú vị.
(Anh béo và anh gầy, An-tôn Sê-khốp, in trong Tuyển truyện ngắn An-tôn Sê-khốp, NXB Văn học, Hà Nội, 2001, Tr.101-102)
[1] Tuyến đường sắt Nikôlai – đường sắt nối liền Pêtérburg (nay là Lêningrát) và Maxcơva, được gọi để kỷ niệm Hoàng đế Nga Nikôlai I (1796-1855).
[2] Gêrôxtrát – người Hy Lạp, năm 356 trước Công nguyên đã đốt đền Áctêmiđa Ephecxcaia để tên mình trở thành bất tử.
[3] Ephian (khoảng 500 đến 461 trước Công nguyên) – nhà hoạt động chính trị của Aten thời cổ. Năm 480 trước Công nguyên đã phản bội, chỉ cho quân Ba Tư lối đi vòng qua khe Phennôpinxki. Toán dân binh Xpácta ở Hy Lạp cổ bảo vệ khe núi này, đã hy sinh một cách anh hùng.
[4] Mề đay “Xtanixláp” – thứ huân chương dành để thưởng cho các quan chức cơ quan dân sự, ở nước Nga trước Cách mạng.
[5] Lục thập: 60 tuổi.
Văn bản trên chủ yếu được kể lại từ điểm nhìn của ai?
Xác định người kể chuyện và điểm nhìn trần thuật (ngôi kể, vị trí quan sát các nhân vật).
Văn bản được kể ở ngôi thứ ba bởi người kể chuyện toàn tri. Người kể liên tục hoán đổi điểm nhìn, đặt điểm nhìn vào nhân vật, một mặt khoảng cách giữa tác giả và nhân vật vẫn được xác lập, mặc khác ở người kể chuyện vẫn thấp thoáng bóng dáng của nhà văn.
Chi tiết nào khiến cho “anh gầy” thay đổi thái độ đối với “anh béo”?
Tìm chi tiết đánh dấu bước ngoặt trong diễn biến tâm lí nhân vật.
- Chi tiết khiến anh gầy thay đổi thái độ là khi anh béo cho biết mình là "viên chức bậc ba rồi… có hai mề đay của Nhà nước."
- Ngay sau đó, anh gầy lập tức thay đổi từ cách xưng hô thân mật sang khúm núm, cung kính, xưng "dạ, bẩm quan trên", bộc lộ rõ thói xu nịnh và sùng bái chức quyền.
Phân tích những đặc điểm nổi bật của nhân vật “anh gầy” trong văn bản?
Phân tích nhân vật qua lời nói, hành động, cử chỉ, tâm lí và sự thay đổi trước - sau của nhân vật.
- Nhân vật anh gầy có những đặc điểm nổi bật:
+ Ban đầu là người chân thành, cởi mở, vui mừng khi gặp lại bạn cũ; nói chuyện tự nhiên, thân mật, nhắc lại những kỉ niệm thời học sinh.
+ Khi biết bạn giữ chức vụ rất cao, anh thay đổi hoàn toàn thái độ: tái mặt, khúm núm, rụt rè, xưng hô kính cẩn, cúi gập người, cười lấy lòng.
=> Nhân vật hiện lên là người mặc cảm về địa vị, sùng bái quyền lực, có thói xu nịnh, đánh mất sự chân thành trong tình bạn.
Xác định chủ đề của văn bản?
Khái quát nội dung tư tưởng mà tác giả muốn gửi gắm qua câu chuyện và nhân vật.
Chủ đề: Phê phán thói xu nịnh, sùng bái chức quyền; đồng thời đề cao sự bình đẳng, chân thành trong các mối quan hệ giữa con người với con người.
Từ văn bản trên, anh/ chị có suy nghĩ gì về thói xu nịnh trong cuộc sống?
Rút ra bài học từ nội dung văn bản, kết hợp trình bày quan điểm cá nhân.
Gợi ý trả lời:
- Thói xu nịnh là biểu hiện của sự thiếu lòng tự trọng, thiếu bản lĩnh, chỉ biết lấy lòng người có quyền thế để mưu cầu lợi ích.
- Thói xu nịnh làm mất đi sự chân thành, khiến các mối quan hệ trở nên giả tạo, thiếu bình đẳng.
- Người có lòng tự trọng cần cư xử chân thành, tôn trọng mọi người, không thay đổi thái độ chỉ vì địa vị hay quyền lực của người khác.
- Mỗi người cần rèn luyện bản lĩnh, giữ gìn nhân cách, sống trung thực và biết đánh giá người khác bằng phẩm chất, năng lực chứ không phải chức vụ hay địa vị.
II. PHẦN VIẾT
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích ngắn gọn chủ đề của bài thơ sau:
Ngông nghênh tuổi trẻ
vô tình đục rạn chân chim mắt mẹ.
Ngông nghênh tuổi trẻ
vô tình vít còng lưng cha.
Hồn nhiên bước vào ngôi nhà hôn nhân
Cuộc sống lứa đôi
đại ngàn nhiệt đới
Ta bơ vơ đứa trẻ rừng chiều lạc lối
Như thiêu thân
lao vào ánh sáng công danh
Bảy dại… Ba khôn
Một giận… Mười buồn
Đi giữa cõi nhân gian
ta như quả non xanh
ủ đất đèn chín ép.
Chuyến tàu đời vừa qua ga Lục Thập[5]
Ngoái lại, ước chi
Đó là BẢN NHÁP.
(Bản nháp, Vân Anh, in trong Dưới vòm sữa mẹ, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2016)
- Xác định chủ đề bài thơ.
- Phân tích một số hình ảnh, từ ngữ tiêu biểu làm sáng tỏ chủ đề.
- Đánh giá thông điệp của bài thơ.
1. Mở đoạn
Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đưa ra cảm nhận/ đánh giá chung về bài thơ
2. Thân đoạn
- Phân tích chủ đề:
+ Hình ảnh “ngông nghênh tuổi trẻ: gợi sự bồng bột, vô tâm của tuổi trẻ khiến cha mẹ tổn thương.
+ Những trải nghiệm trong hôn nhân, công danh và cuộc sống giúp con người nhận ra sự non nớt, lạc lối của chính mình (phân tích các hình ảnh: đứa trẻ rừng chiều lạc lối, quả non xanh ủ đất đèn chín ép...).
+ Hình ảnh "Chuyến tàu đời vừa qua ga Lục Thập... Đó là BẢN NHÁP" thể hiện nỗi tiếc nuối vì cuộc đời không thể làm lại.
=> Chủ đề: Thể hiện những chiêm nghiệm về tuổi trẻ và hành trình sống; đồng thời thể hiện niềm trăn trở, tiếc nuối trước những sai lầm của con người trên hành trình trưởng thành và khát vọng sống ý nghĩa, không để cuộc đời phải hối tiếc.
3. Kết đoạn
- Khẳng định giá trị của chủ đề.
- Nêu bài học, liên hệ bản thân
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) thuyết phục người khác thay đổi quan niệm sống: Gió chiều nào theo chiều ấy.
- Xác định đúng vấn đề nghị luận: quan niệm sống "Gió chiều nào theo chiều ấy"
- Vận dụng thao tác lập luận giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, bác bỏ và rút ra bài học nhận thức, hành động.
- Kết hợp lí lẽ với dẫn chứng để làm sáng tỏ vấn đề.
- Bố cục bài viết đảm bảo ba phần: Mở bài, Thân bài, Kết bài.
1. Mở bài
Giới thiệu quan niệm sống "Gió chiều nào theo chiều ấy" và bày tỏ quan điểm
2. Thân bài
a. Giải thích
- "Gió chiều nào theo chiều ấy" là lối sống thiếu lập trường, dễ thay đổi quan điểm theo số đông hoặc theo người có lợi thế, không kiên định với điều mình tin là đúng.
- Biểu hiện:
+ Thiếu chính kiến, dễ thay đổi quan điểm; A dua, chạy theo số đông.
+ Ngại bảo vệ điều đúng, sợ va chạm.
+ Thay đổi thái độ trước người có quyền lực, địa vị; xu nịnh để mưu cầu lợi ích.
+ Thỏa hiệp với cái sai, dễ bị dư luận và mạng xã hội chi phối.
+ Từ bỏ mục tiêu, nguyên tắc sống khi gặp khó khăn hoặc khi hoàn cảnh thay đổi.
b. Phân tích + Chứng minh
- Vì sao cần thay đổi quan niệm này?
+ Người sống theo đám đông dễ đánh mất cá tính và giá trị riêng của bản thân.
+ Thiếu lập trường khiến con người dễ bị lôi kéo vào những hành vi sai trái, tiếp tay cho cái xấu.
+ Lối sống ba phải làm mất đi lòng tin và sự tôn trọng của người khác.
+ Không có chính kiến sẽ khó thành công vì luôn phụ thuộc vào ý kiến của người khác, thiếu quyết đoán trong học tập, công việc và cuộc sống.
+ Một xã hội phát triển cần những con người biết suy nghĩ độc lập, dám bảo vệ điều đúng và chịu trách nhiệm về lựa chọn của mình.
c. Bình luận
- Bài học nhận thức:
+ Nhận thức được lối sống "gió chiều nào theo chiều ấy" là biểu hiện của sự thiếu bản lĩnh, thiếu chính kiến và dễ đánh mất giá trị bản thân.
+ Hiểu rằng mỗi người cần có lập trường, biết phân biệt đúng sai, không để bản thân bị chi phối bởi số đông hay lợi ích trước mắt.
- Bài học hành động:
+ Rèn luyện bản lĩnh, tư duy độc lập và xây dựng chính kiến của bản thân.
+ Dũng cảm bảo vệ điều đúng, không hùa theo đám đông hay tiếp tay cho cái sai.
+ Chủ động lắng nghe, tiếp thu những ý kiến đúng đắn để hoàn thiện bản thân nhưng vẫn giữ vững những nguyên tắc, giá trị cốt lõi.
+ Không ngừng học tập, trau dồi kiến thức và kĩ năng để có đủ tự tin đưa ra những quyết định đúng đắn, có trách nhiệm.
d. Mở rộng
Kiên định không đồng nghĩa với bảo thủ. Con người cần biết lắng nghe, tiếp thu ý kiến đúng để điều chỉnh bản thân nhưng không đánh mất nguyên tắc và giá trị cốt lõi.
3. Kết bài
- Khẳng định "Gió chiều nào theo chiều ấy" là quan niệm sống tiêu cực cần thay đổi.
- Thông điệp, liên hệ





