Đề thi tham khảo giữa học kì 1 Văn 10 - Đề số 1
I. PHẦN ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau:
(Lược một đoạn: Đào Cảnh Long, hiệu là Vân Hiên cư sĩ, là một học trò nghèo sống vào cuối đời Lê Chiêu Thống, đức độ rộng rãi, tính tình chất phác, trọng danh nghĩa, chuộng khí khái. Năm Bính Thìn, vì nhà thiếu ăn, chàng phải đi dạy học thuê cho một nhà giàu).
Ở chỗ dạy học, anh có nuôi một con chó già, sớm hôm chơi đùa với nó. Anh đi đâu, nó cũng đi theo. Anh ngồi đâu, nó cũng đứng chầu bên cạnh. Anh đặt tên nó là Hàn Lư. Anh thường đùa với nó:
- Mày được ta chăm nuôi, mày có chịu dốc sức liều chết vì ta không?
Con vật gật đầu, nghoe nguẩy đuôi như tỏ ý nhận lời.
Mấy tháng sau, anh có việc phải trở về quê hương. Con chó phải ở lại. Nó quanh quẩn ra vào ở cửa phòng học. Ban ngày xua đuổi gà lợn, ban đêm phòng giữ kẻ gian. Nhiều khi bọn trẻ lãng quên, không cho ăn, tiếng sủa của con chó không còn được sang sảng nữa.
Bấy giờ, trong làng có một phú ông họ Trương thấy vậy, thương hại, đem cơm đến cho ăn. Vừa bước vào cửa phòng học, liền bị con chó cắn phải. Ông trách mắng:
- Hàn Lư! Hàn Lư! Vì thương mày đói lâu nay, nên ta đến đưa cơm cho mày ăn. Ta đâu phải là kẻ bất nhân! Mày tuy là giống vật, nhưng cũng biết suy nghĩ chút ít. Sao mày lại lấy oán trả ân?
Ông chưa dứt lời, con vật chồm lên, nhe răng, giơ vuốt, nói bằng tiếng người:
- Ngày chủ tôi đi có căn dặn tôi phải bảo vệ phòng học, trông nom bọn trẻ. Ngăn chặn kẻ ác, cấm đoán kẻ gian là trách nhiệm của tôi. Ông tới đột ngột, lại không có chủ tôi đón tiếp, thì bị cắn một miếng là đúng lẽ thôi! Thế mà còn trách mắng nặng lời gì nữa!
Thấy con chó biết nói tiếng người, lại nói đúng lẽ, phú ông thầm nghĩ trong bụng nó là con vật kì lạ, ý muốn dụ dỗ, bèn nói:
- Ông chủ của mày bản chất là thầy đồ nghèo. Mình hắn chẳng đủ miếng ăn, lấy đâu ra dành cho mày nữa. Bây giờ chi bằng mày bỏ chỗ tối, tới chỗ sáng, bỏ nhà nghèo, tới nhà giàu, tìm nơi no đủ, sung sướng suốt đời, có phải hơn không? Tội gì mà phải chịu khổ mãi?
Con chó nói:
- Ôi! Ông cũng là người, sao nỡ mở miệng buông lời như thế. Kẻ sĩ trung nghĩa, không vì cùng hay thông mà thay đổi ý chí, cho nên đến mùa rét mới biết rõ bách tùng tươi tốt hơn các cây khác, gặp gió mạnh mới hay cây đứng được vững chắc. Giống súc vật tuy khác với loài người, song vẫn có tính trời phú, biết giữ vững khí tiết đối với chủ của mình. Huống hồ ông chủ của tôi lại là một người luôn biết giữ lòng chân chính, sống nghề quang minh, trung để thờ vua, tín để kết bạn, hiếu với cha mẹ, hòa thuận họ hàng, trời sắp giao cho trách nhiệm quan trọng, cho nên bắt phải cùng khổ thiếu thốn, để trau dồi cho được thành công tốt đẹp đó thôi! Ông nói năng lung tung chẳng đúng gì, nên tôi tha thứ cho. Nếu không miệng này sẽ cắn cho một miếng nữa, chẳng ngần ngại gì! Hãy mau mau lui về, chớ để sau phải hối tiếc!
Phú ông nghe xong, sửng sốt ngây dại, hiểu rõ con vật có nghĩa, không thể giành giật được, đành mang cơm ra về.
Vài hôm sau, Đào Cảnh Long trở về, con chó mừng rỡ ra cửa đón tiếp, hình dáng tiều tụy khôn xiết. Nghe xóm giềng kể lại câu chuyện, Đào Cảnh Long cảm động lắm, ngậm ngùi lấy làm lạ mãi. Anh kiểm tra lại phòng sách, thì khóa cửa không di chuyển, giường chiếu còn y nguyên, đều là nhờ con chó hết sức canh giữ.
Ôi! Con chó là loài súc vật, mà còn biết giữ lòng tiết nghĩa thờ chủ. Dù dùng lời đường mật dụ dỗ, cũng không thể lay chuyển lòng dạ sắt đá của nó. Huống gì con người ăn lộc nhà vua, nếu giữ vững đầy đủ cái lòng tiết nghĩa ấy để đền ơn nước, xông ra đánh giặc, giặc nào chẳng tan; cố sức giữ thành, thành nào chẳng vững…
Than ôi! Sao mà lòng người chẳng còn được như xưa, thói đời đổi thay nhiều dạng? Lúc nước nhà yên vui thì bợ đỡ cầu vinh, lúc cuộc đời rối ren thì trở mặt đổi giọng, bán nước kiếm ăn, theo thời cầu lợi, không còn chút liêm sỉ, thật là quá quắt!
Vì vậy, tôi cho rằng ở đời nhiều kẻ không bằng con Hàn Lư đấy! Nhân ghi lại mẩu chuyện để răn bảo người đời.
(Chuyện con chó có nghĩa của một nhà nghèo, Phạm Quý Thích, in trong Truyện truyền kì Việt Nam, Vũ Ngọc Khánh – Nguyễn Quang Ân sưu tầm, tuyển chọn, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2023, tr.320 – 332)
Văn bản trên được kể lại từ ngôi thứ mấy?
- Vận dụng kiến thức về ngôi kể.
- Xác định người kể chuyện qua các đại từ xưng hô và cách gọi nhân vật.
Văn bản được kể theo ngôi thứ ba.
Chỉ ra lời dẫn trực tiếp có trong đoạn văn được in đậm của văn bản.
- Vận dụng kiến thức về lời dẫn trực tiếp.
- Tìm lời dẫn trực tiếp lời thoại của nhân vật (được đặt sau dấu hai chấm và gạch đầu dòng hoặc đặt trong dấu ngoặc kép)
Lời dẫn trực tiếp trong đoạn in đậm là lời của con chó Hàn Lư:
“- Ngày chủ tôi đi có căn dặn tôi phải bảo vệ phòng học, trông nom bọn trẻ. Ngăn chặn kẻ ác, cấm đoán kẻ gian là trách nhiệm của tôi. Ông tới đột ngột, lại không có chủ tôi đón tiếp, thì bị cắn một miếng là đúng lẽ thôi! Thế mà còn trách mắng nặng lời gì nữa!”
Chỉ ra và phân tích tác dụng của yếu tố kì ảo được sử dụng trong truyện?
- Vận dụng kiến thức về đặc trưng của truyện truyền kì.
- Chỉ ra yếu tố kì ảo và phân tích giá trị nội dung, nghệ thuật của yếu tố đó.
- Yếu tố kì ảo: Con chó Hàn Lư biết nói tiếng người, có suy nghĩ, lí lẽ và quan điểm như con người.
- Tác dụng:
+ Làm cho câu chuyện trở nên hấp dẫn, sinh động, mang màu sắc truyền kì.
+ Làm nổi bật phẩm chất cao đẹp của Hàn Lư: trung thành, nghĩa khí, thủy chung.
+ Tác giả phê phán những con người phản bội, chạy theo danh lợi, đồng thời ca ngợi những người biết giữ khí tiết và lòng trung nghĩa.
Xác định chủ đề của văn bản?
- Vận dụng kiến thức về chủ đề của văn bản.
- Khái quát nội dung và thông điệp xuyên suốt câu chuyện.
Chủ đề: Ca ngợi lòng trung thành, thủy chung, trọng nghĩa, giữ vững khí tiết của con chó Hàn Lư; phê phán những kẻ phản bội, chạy theo danh lợi, từ đó nhắc nhở con người phải sống có nghĩa tình, trung thực và giữ gìn phẩm giá.
Anh/ chị rút ra được bài học gì cho bản thân sau khi đọc văn bản trên?
Liên hệ thông điệp của văn bản với nhận thức và hành động của bản thân.
- Có thể rút ra một số bài học như:
+ Cần sống trung thực, thủy chung, biết trọng nghĩa tình.
+ Không vì lợi ích vật chất mà phản bội niềm tin của người khác.
+ Biết kiên định trước những cám dỗ của cuộc sống.
+ Luôn giữ gìn nhân cách, phẩm giá và sống có trách nhiệm với những người đã yêu thương, giúp đỡ mình.
II. PHẦN VIẾT
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích bài thơ sau:
Chuyện kể rằng
Có quả trứng đại bàng
Rơi vào ổ gà đang ấp
Khi nở ra cùng với bầy gà
Đại bàng con ngượng ngùng chiêm chiếp
Nhảy bay loạng choạng sân nhà.
Không ai nói với đại bàng về những chân trời xa
Về những đại ngàn bí mật
Nên nó vẫn hồn nhiên bới đất
Chỉ có khát vọng mơ hồ
Lâu lâu lại cồn cào trong ngực...
Làm sao mà ai biết
Mình đã bắt đầu từ quả trứng nào đây
Sao không thử một lần vỗ cánh tung bay?...
(Khát vọng, Đặng Hồng Thiệp[1], in trong Thơ Sông Lam, trang 247, Nxb Hội nhà văn, 2017)
[1] Nhà thơ Đặng Hồng Thiệp (1937-2013), quê ở xã Liên Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Năm 2012, ông được nhận giải thưởng Tác phẩm hay của Tạp chí Nhà văn Việt Nam.
* Yêu cầu chung: xác định đúng vấn đề nghị luận; bảo đảm yêu cầu về dung lượng và sử dụng bằng chứng.
- Vấn đề nghị luận:
- Dung lượng: khoảng 600 chữ.
- Bằng chứng: bằng chứng thực tế đời sống phù hợp, thuyết phục.
1. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả Đặng Hồng Thiệp và bài thơ Khát vọng.
- Nêu cảm nhận/ đánh giá chung về bài thơ
2. Thân bài:
a. Hình tượng đại bàng
- Tình huống: quả trứng đại bàng rơi vào ổ gà → Đại bàng sinh ra giữa bầy gà nên:
+ Lớn lên trong môi trường không thuộc về mình.
+ Tự coi mình là gà, sống như gà.
+ Không nhận ra giá trị và năng lực vốn có của bản thân.
=> Hoàn cảnh sống có ảnh hưởng lớn đến nhận thức và sự phát triển của mỗi con người.
- Bi kịch và khát vọng của đại bàng: Không ai nói cho đại bàng biết:
+ Những chân trời rộng lớn.
+ Những cánh rừng, đại ngàn.
+ Khả năng bay cao của chính nó.
- Hình ảnh: “hồn nhiên bới đất”; “khát vọng mơ hồ/ lâu lâu lại cồn cào trong ngực”
=> Khắc họa bi kịch của con người khi sống trong giới hạn do hoàn cảnh tạo nên nhưng vẫn luôn tồn tại khát vọng vượt lên số phận.
b. Lời thức tỉnh ở cuối bài thơ
- Câu hỏi “Làm sao mà ai biết/Mình đã bắt đầu từ quả trứng nào đây”: Khẳng định xuất thân không quyết định tương lai.
- “Sao không thử một lần vỗ cánh tung bay?”: Là lời tự vấn, lời động viên, lời thức tỉnh mỗi người hãy dũng cảm khám phá năng lực của bản thân và vượt qua giới hạn.
=> Chủ đề: Qua hình tượng đại bàng sinh ra trong ổ gà, bài thơ thể hiện niềm tin vào giá trị và tiềm năng của mỗi con người; đồng thời bày tỏ sự trăn trở trước những hoàn cảnh có thể kìm hãm con người và khơi dậy khát vọng dám vượt qua giới hạn để khẳng định bản thân, vươn tới những giá trị cao đẹp.
c. Đặc sắc nghệ thuật
- Xây dựng hình tượng biểu tượng giàu ý nghĩa.
- Kết cấu như một câu chuyện ngụ ngôn.
- Giọng thơ nhẹ nhàng, giàu tính triết lí.
- Câu hỏi tu từ tạo sức lay động và thôi thúc người đọc suy ngẫm.
3. Kết bài
Khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ.





