Đề thi tham khảo giữa học kì 2 Văn 11 - Đề số 4
I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau:
PHỞ
Phở ăn bất cứ vào giờ nào cũng đều thấy trôi cả. Sớm, trưa, chiều, tối, khuya, lúc nào cũng ăn được. Trong một ngày ăn thêm một bát phở, cũng như lúc trò chuyện ăn giọng nhau mà pha thêm một ấm trà, cùng thưởng thức với bạn bè. Hình như không ai nỡ từ chối một người quen rủ đi ăn phở. Phở giúp cho người thanh bạch đủ điều kiện biểu hiện lòng thành theo với bầu bạn nó hợp với cái túi nhỏ của mình. Phở còn tài tình ở cái chỗ là mùa nào ăn cũng thấy có nghĩa thâm thúy. Mùa nắng, ăn một bát, ra mồ hôi, gặp cơn gió nhẹ chạy qua mặt qua lưng, thấy như giời quạt cho mình. Mùa đông lạnh, ăn bát phở nóng, đôi môi tái nhợt chợt thắm tươi lại. Trong một ngày mùa đông của người nghèo, bát phở có giá trị như một tấm áo kép mặc thêm lên người. Đêm đông, có người ăn phở xong, tự coi như vừa nuốt được cả một cái chăn bông và tin rằng có thể ngủ yên đến sáng, để mai đi làm khoẻ. […].
Phở cũng có những quy luật của nó. Như tên các hàng phở, hiệu phở. Tên người bán phở thường chỉ dùng một tiếng, lấy ngay cái tên cúng cơm người chủ hoặc tên con mà đặt làm tên gánh, tên hiệu, ví dụ phở Phúc, phở Lộc, phở Thọ, phở Trưởng ca, phở Tư … Có khi một cái tên tật nguyền trên thân thể người bán phở được cảm tình quần chúng thân mật nhắc lại thành một cái tên hiệu : phở Gù, phở Lắp, phở Sứt … cái khuyết điểm trên hình thù ấy đã chuyển thành một cái uy tín trong nghề bán miếng chín mà lưu danh một thời trên cửa miệng những người sành. Quần chúng nhân dân, nhất là nhân dân Hà Nội có nhiều sáng kiến để đặt tên cho những người họ yêu tin […]
[…] Hương vị phở vẫn như xa xưa, nhưng cái tâm hồn người ăn phở ngày nay, đã sáng sủa và lành mạnh hơn nhiều … Ngày trước, anh hàng phở có tiếng rao, có người rao nghe quạnh hiu như tiếng bánh dày giò đêm đông tội lỗi trong ngõ khuất; có người rao lên nghe vui rền. Tại sao, bây giờ Hà nội vẫn có phở, mà tiếng rao lại vắng hẳn đi? Có những lúc, tôi muốn thu thanh vào đĩa, tất cả những cái tiếng rao hàng quà rong của tất cả những thứ quà rong, của tất cả những thư quà miếng chín trên toàn cõi quê hương chúng ta. Những tiếng rao ấy, một phần nào vang hưởng lên cái nhạc điệu sinh hoạt chung của chúng ta đấy.
[…] Đêm Hà nội, nay thức khuya nhất vẫn là những hiệu phở […] Và cái món ăn Hà Nội đầu tiên…vẫn là cái món phở ngày xưa chúng ta vẫn ăn đủ cả rau mùi hành hoa đủ chua cay và sôi sùng sục. Tôi biết ở Nam Bộ vẫn có phở, phở hủ tíu, nhưng bát phở Bắc ăn ở đầu hè di cư không bao giờ có thể ngon được bằng bát phở cổ truyền Hà Nội ăn ngay bên lò than quả bàng đỏ lửa giữa ngàn năm văn vật này.
(Trích tùy bút Phở – Nguyễn Tuân, Báo Văn số 1, 10-5-1957, và số 2, 17-5-1957. In lại trong Cảnh sắc và hương vị đất nước, NXB Tác Phẩm Mới, 1988)
Phở được nhìn nhận trong đoạn trích trên mấy phương diện? Đó là những phương diện nào?
- Xác định các nội dung, khía cạnh được tác giả triển khai khi viết về đối tượng
- Dựa vào các đoạn văn và chi tiết tiêu biểu để khái quát thành những phương diện chính.
– Phở được nhìn nhận trên 3 phương diện chính.
– Đó là các phương diện sau:
+ Thời gian thích hợp để ăn phở (Phở ăn bất cứ vào giờ nào cũng đều thấy trôi cả. Sớm, trưa, chiều, tối, khuya, lúc nào cũng ăn được)
+ Những quy luật riêng của món phở thể hiện trong tên gọi hiệu phở (Tên người bán phở thường chỉ dùng một tiếng, lấy ngay cái tên cúng cơm người chủ hoặc tên con mà đặt làm tên gánh, tên hiệu)
+ Tiếng rao bán phở thể hiện được hồn cốt của văn hóa dân tộc nhưng hiện đã mai một đi ít nhiều (bây giờ Hà Nội vẫn có phở, mà tiếng rao lại vắng hẳn đi
Theo tác giả, Phở có những quy luật của nó. Quy luật đó được thể hiện như thế nào?
- Đọc kĩ đoạn văn nói về “những quy luật” của phở
- Xác định các biểu hiện cụ thể của quy luật ấy, sau đó khái quát ý nghĩa.
Theo tác giả, phở có những quy luật riêng trong cách đặt tên hàng, hiệu phở. Những quy luật đó được thể hiện:
- Tên hàng phở thường chỉ dùng một tiếng, lấy từ tên thật của người bán hoặc tên con để đặt tên gánh, tên hiệu: “phở Phúc, phở Lộc, phở Thọ, phở Trưởng ca, phở Tư...”.
- Có những tên hiệu được đặt theo đặc điểm, khiếm khuyết trên cơ thể người bán, chẳng hạn “phở Gù, phở Lắp, phở Sứt”.
- Những đặc điểm vốn được xem là khuyết điểm lại trở thành tên gọi thân mật, tạo nên uy tín và dấu ấn riêng của người bán trong lòng khách hàng.
Vì sao khi nhận xét về tiếng rao hàng phở rong, tác giả cho rằng:“Những tiếng rao ấy, một phần nào vang hưởng lên cái nhạc điệu sinh hoạt chung của chúng ta đấy”?
- Giải thích ý nghĩa của hình ảnh, nhận định
- Chú ý mối quan hệ giữa tiếng rao hàng rong với đời sống sinh hoạt và văn hóa cộng đồng.
Tác giả cho rằng những tiếng rao hàng rong “vang hưởng lên cái nhạc điệu sinh hoạt chung” vì:
- Tiếng rao là một âm thanh quen thuộc của đời sống, gắn với những con phố, ngõ xóm và sinh hoạt thường ngày của người dân.
- Những tiếng rao góp phần tạo nên “nhạc điệu” riêng của đời sống, khiến không gian sinh hoạt trở nên gần gũi, sinh động và có hồn hơn.
- Tiếng rao không chỉ có giá trị thông báo, mua bán mà còn lưu giữ một nét văn hóa dân gian, một phần kí ức của cộng đồng.
- Việc tác giả tiếc nuối khi “tiếng rao lại vắng hẳn đi” cho thấy sự trân trọng và ý thức gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống đang dần mai một.
Em có đồng ý với tác giả về việc thưởng thức Phở trong đoạn văn“Phở còn tài tình ở cái chỗ là mùa nào ăn cũng thấy có nghĩa thâm thúy... như một tấm áo kép mặc thêm lên người” không? Vì sao?
- Trình bày rõ quan điểm đồng tình hoặc không đồng tình
- Dùng lí lẽ và chi tiết trong văn bản để giải thích. Có thể mở rộng bằng suy nghĩ của bản thân.
Gợi ý: Đồng tình, vì:
-Theo tác giả, món Phở ăn mùa nào cũng thấy có ý nghĩa thâm thúy vì:
+ Mùa nóng, ăn phở, ra mồ hôi, gặp gió sẽ mát hơn.
+ Mùa lạnh, ăn phở, đôi môi tái nhợt, tươi thắm lại, tức ấm hơn.
+ Mùa đông: bát phở như tấm áo kép cho người nghèo.
Như vậy, ý nghĩa thâm thúy ở đây được hiểu là: Phở đem đến lối sống thuận tự nhiên cho con người, che chở, bảo vệ con người trong đời sống. Thưởng thức phở thực chất là trải nghiệm nghệ thuật sống trong cuộc đời.
Trong những nét đẹp văn hóa Việt Nam mà em được biết, được thấy ấn tượng nhất là điều gì? Vì sao?
- Học sinh lựa chọn một nét đẹp văn hóa Việt Nam
- Trình bày rõ nét đẹp đó và đưa ra những lí do thuyết phục.
Gợi ý:
- Em ấn tượng nhất với truyền thống uống nước nhớ nguồn của dân tộc Việt Nam.
+ Đây là truyền thống thể hiện lòng biết ơn của con người đối với tổ tiên, những người có công với gia đình, quê hương và đất nước.
+ Truyền thống ấy được thể hiện qua nhiều hoạt động như thờ cúng tổ tiên, tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ, chăm sóc nghĩa trang liệt sĩ, tổ chức các ngày lễ tri ân...
+ Truyền thống này giúp mỗi người hiểu hơn về nguồn cội, biết trân trọng những giá trị đã được các thế hệ trước vun đắp.
=> Đây là một nét đẹp cần được giữ gìn và phát huy, đặc biệt trong đời sống hiện đại.
II. VIẾT
CÁI KÉN VÀ CON BƯỚM
Một người đàn ông tìm thấy một cái kén của sâu bướm. Con sâu dường như đang cố gắng để chui ra khỏi kén. Người đàn ông ngồi xuống và quan sát cái kén suốt hàng giờ nhưng dường như con sâu bướm phải vật lộn rất vất vả mà chỉ tạo ra được một chiếc lỗ nhỏ xíu. Đột nhiên nó dừng lại và dường như kiệt sức, bế tắc. Người đàn ông quyết định giúp con bướm có thể chui ra ngoài bằng cách dùng kéo cắt lỗ trên chiếc kén rộng thêm một chút nữa. Sau đó, con bướm nhỏ đã có thể thoát ra khỏi kén dễ dàng hơn nhưng cơ thể nó dường như yếu ớt, đôi cánh rúm ró.
Người đàn ông vẫn ở đó, chờ cho đôi cánh bướm có thể dang rộng và con bướm bay lên. Tuy nhiên, điều đó không bao giờ xảy ra. Con bướm sẽ chỉ có thể sống phần đời con lại bằng cách bò với cơ thể khuyết tật và đôi cánh rúm ró. Nó không bao giờ có thể bay, Mặc dù, người đàn ông có lòng tốt, nhưng anh ta không hiểu quy luật của tự nhiên. Cái kén chật hẹp là thử thách để sâu có thể hóa bướm. Chỉ có tự mình nỗ lực thoát khỏi cái kén, chất lỏng trong cơ thể sâu mới chuyển hết sang đôi cánh, giúp nó có thể bay tự do. Cuộc chiến với cuộc sống giúp chúng ta phát triển sức mạnh. Không đấu tranh, chúng ta không bao giờ trưởng thành và mạnh mẽ hơn. Tự mình giải quyết các vấn đề, không dựa dẫm vào người khác là điều rất quan trọng để bạn có thể vững vàng trong cuộc sống.
(Trích Quà tặng cuộc sống)
Hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 từ) trình bày ý kiến của em về vấn đề gợi ra từ câu chuyện trên.
- Xác định vấn đề nghị luận được gợi ra từ câu chuyện, trong đó trọng tâm là vai trò của khó khăn, thử thách đối với sự trưởng thành của con người.
- Bàn luận thêm về sự cần thiết của việc giúp đỡ người khác đúng cách, đúng lúc, bởi sự giúp đỡ thiếu phù hợp đôi khi có thể làm mất đi cơ hội tự rèn luyện của người được giúp.
- Vận dụng các thao tác lập luận như giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, bác bỏ và liên hệ bản thân.
1. Mở bài
Giới thiệu câu chuyện và vấn đề nghị luận gợi ý từ câu chuyện
2. Thân bài
– Tóm tắt câu chuyện: Chuyện kể về một người đàn ông tìm thấy cái kén bướm khó khăn chui qua cái lỗ nhỏ. Người đàn ông định giúp chú bướm nhỏ. Ông lấy kéo rạch cho cái lỗ to thêm. Chú bướm dễ dàng thoát ra khỏi cái kén. Nhưng thân mình nó sưng phồng lên, đôi cánh thì nhăn nhúm. Và từ đấy chú bướm đã phải bò loanh quanh suốt quãng đời còn lại với đôi cánh nhăn nhúm và thân hình sưng phồng. Nó chẳng bao giờ có thể bay được. Thông qua sự việc người đàn ông và cái kén bướm, ta rút ra được một quy luật tự nhiên cũng như quy luật xã hội: Khó khăn thử thách là cơ hội, giá đỡ để con người tồn tại trưởng thành và để đạt được thành công. Sự giúp đỡ là đáng quý, nhưng giúp đỡ không đúng nơi đúng lúc sẽ làm phản tác dụng và gây hại cho người được giúp.
=> Từ câu chuyện đặt ra hai vấn đề:
+ Những khó khăn thử thách trong cuộc sống chính là cơ hội cho con người tự rèn luyện, phấn đấu vươn lên để khẳng định bản thân và tự hoàn thiện mình. (ý chính)
+ Lòng tốt nếu không thể hiện đúng cách, đúng chỗ có thể gây ra những hậu quả, những hệ lụy nghiêm trọng (ý phụ).
– Bàn luận:
* Tại sao những khó khăn thử thách trong cuộc sống là những cơ hội cho con người vươn lên?
- Khó khăn, thử thách buộc con người phải nỗ lực và tìm cách vượt qua.
+ Khi đối diện với trở ngại, con người không thể thụ động mà phải suy nghĩ, hành động, tìm kiếm giải pháp.
+ Quá trình đó giúp con người phát huy khả năng và khám phá những tiềm năng của bản thân.
- Khó khăn, thử thách rèn luyện bản lĩnh, ý chí và nghị lực.
+ Những trở ngại giúp con người học cách kiên trì, không dễ dàng bỏ cuộc.
+ Mỗi lần vượt qua một thử thách, con người lại có thêm kinh nghiệm, bản lĩnh và sự tự tin.
- Khó khăn có thể trở thành động lực để con người thay đổi và vươn lên.
+ Hoàn cảnh khó khăn có thể thôi thúc con người cố gắng, chủ động tìm kiếm cơ hội.
+ Thành quả đạt được sau quá trình nỗ lực giúp con người trưởng thành hơn.
- Ngược lại, nếu cuộc sống không có thử thách hoặc con người luôn được bao bọc, làm thay:
+ Con người dễ hình thành tâm lí ỷ lại, phụ thuộc.
+ Không có cơ hội rèn luyện năng lực, bản lĩnh và khả năng giải quyết vấn đề.
+ Khi gặp khó khăn thực sự, dễ trở nên lúng túng, thiếu khả năng tự đứng vững.
* Tại sao lòng tốt không thể hiện đúng cách, đúng chỗ có thể gây ra những hậu quả, những hệ lụy nghiêm trọng?
- Lòng tốt là điều cần thiết trong cuộc sống.
+ Sự yêu thương, sẻ chia và giúp đỡ khiến con người cảm thấy được quan tâm, hỗ trợ.
+ Lòng tốt góp phần tạo nên những mối quan hệ nhân ái và một cộng đồng giàu tình người.
- Tuy nhiên, lòng tốt cần được thể hiện đúng cách, đúng lúc, đúng đối tượng và phù hợp với hoàn cảnh.
+ Giúp đỡ người khác không đồng nghĩa với việc làm thay tất cả.
+ Cần xem xét người khác thực sự cần sự hỗ trợ nào và họ có thể tự giải quyết đến đâu.
+ Sự giúp đỡ phù hợp nên tạo điều kiện để người được giúp tự mình giải quyết vấn đề và trưởng thành.
- Nếu giúp đỡ không đúng cách, lòng tốt có thể gây tác dụng ngược:
+ Khiến người khác trở nên ỷ lại, phụ thuộc, không muốn hoặc không biết tự mình cố gắng.
+ Vô tình tước đi cơ hội rèn luyện và trưởng thành của người được giúp.
+ Trong một số trường hợp, sự can thiệp thiếu phù hợp còn có thể khiến vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn..
* Bài học nhận thức và hành động:
- Nhận thức được rằng khó khăn, thử thách là một phần tất yếu của cuộc sống.
- Không sợ hãi, né tránh hay dễ dàng bỏ cuộc trước khó khăn.
- Chủ động rèn luyện ý chí, bản lĩnh, tính tự lập và khả năng giải quyết vấn đề.
- Khi giúp đỡ người khác, cần quan tâm đến nhu cầu thực sự của họ, không bao bọc hoặc làm thay quá mức.
- Là học sinh:
+ Chủ động hoàn thành nhiệm vụ học tập.
+ Khi gặp bài khó, trước hết tự suy nghĩ, tìm hướng giải quyết.
+ Có thể nhờ thầy cô, cha mẹ, bạn bè hướng dẫn nhưng không phụ thuộc hoàn toàn vào người khác.
3. Kết bài
- Khẳng định ý nghĩa của vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm.





