Đề thi tham khảo giữa học kì 2 Văn 11 - Đề số 3
I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản:
Mai cốt cách, tuyết tinh thần,
Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười.
Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.
Kiều càng sắc sảo, mặn mà,
So bề tài, sắc, lại là phần hơn.
Làn thu thủy, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
Sắc đành đòi một, tài đành họa hai.
(Trích “Truyện Kiều”- Nguyễn Du)
Bài thơ được viết theo thể thơ nào?
Dựa vào số tiếng trong mỗi dòng thơ, cách gieo vần và quy luật kết nối giữa các câu để xác định thể thơ.
Đoạn trích được viết theo thể thơ lục bát.
Nêu nội dung chính của đoạn trích trên?
Xác định đối tượng được nói đến, nội dung nổi bật được triển khai và thái độ của tác giả đối với đối tượng ấy.
Đoạn trích tập trung khắc họa vẻ đẹp của Thúy Vân và Thúy Kiều, trong đó Thúy Vân mang vẻ đẹp trang trọng, phúc hậu, hài hòa, còn Thúy Kiều mang vẻ đẹp sắc sảo, mặn mà, nổi bật cả về tài lẫn sắc.
Chỉ ra biện pháp tu từ sử dụng trong câu thơ và nêu tác dụng: “Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh”?
- Xác định từ ngữ có dấu hiệu của biện pháp tu từ
- Phân tích tác dụng trên ba phương diện: nghệ thuật, nội dung và tình cảm/thái độ của tác giả.
- Biện pháp tu từ: Nhân hóa (hoa biết ghen, liễu biết hờn )
- Tác dụng:
+ Làm hình ảnh thơ trở nên sinh động, hấp dẫn và có hồn hơn.
+ Nhấn mạnh về số phận đã định sẵn của Thúy Kiều là một cuộc đời đầy sóng gió, bão bùng, cuộc sống trong tương lai sẽ không bình yên.
Có ý kiến cho rằng: “Nguyễn Du khắc họa chân dung của Thúy Vân và Thúy Kiều là những chân dung số phận” anh/chị có đồng ý với quan điểm trên không? Vì sao?
- Xác định rõ đồng ý/không đồng ý hoặc đồng ý một phần
- Dùng các chi tiết trong văn bản để lí giải và chứng minh.
Gợi ý:
- Đồng ý với ý kiến trên. Bởi lẽ, Nguyễn Du không chỉ miêu tả ngoại hình của Thúy Vân và Thúy Kiều mà còn gửi vào những nét đẹp ấy những dự cảm về số phận của mỗi người.
+ Thúy Vân: Vẻ đẹp “trang trọng”, “đầy đặn”, “nở nang”, “đoan trang”, lại khiến “mây thua”, “tuyết nhường”. Thiên nhiên có thái độ nhường nhịn, hài hòa với nàng gợi một số phận êm đềm, bình lặng, ít sóng gió.
+ Thúy Kiều: Vẻ đẹp “sắc sảo, mặn mà”, “sắc đành đòi một, tài đành họa hai”. Đặc biệt, vẻ đẹp của nàng khiến “hoa ghen”, “liễu hờn” → thiên nhiên không nhường nhịn mà đối lập, ganh ghét dự báo một số phận nhiều truân chuyên, bất hạnh.
=> Như vậy, qua nghệ thuật tả người gắn với tả cảnh và sử dụng các từ ngữ mang tính dự báo, Nguyễn Du đã biến chân dung ngoại hình thành “chân dung số phận”.
Việc xây dựng bức chân dung Thúy Vân, Thúy Kiều cho thấy thái đọ và tình cảm gì của tác giả dành cho nhân vật?
Từ cách lựa chọn từ ngữ, hình ảnh, mức độ miêu tả và cách nhìn của tác giả đối với nhân vật để nhận xét thái độ, tình cảm.
Việc xây dựng chân dung Thúy Vân và Thúy Kiều cho thấy Nguyễn Du dành cho hai nhân vật:
- Sự trân trọng, ngợi ca trước vẻ đẹp ngoại hình, tài năng và phẩm chất của hai chị em.
- Với Thúy Kiều, nhà thơ thể hiện sự say mê, ngưỡng mộ trước vẻ đẹp sắc sảo, tài năng vượt trội của nàng.
- Đồng thời, qua những dự cảm về số phận, Nguyễn Du còn bộc lộ niềm thương cảm, xót xa trước cuộc đời nhiều bất hạnh của người phụ nữ tài sắc.
=> Qua đó thể hiện cái nhìn nhân văn, trân trọng con người, đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội phong kiến.
II. VIẾT
Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ ý kiến của anh/chị về vấn đề “Sự cần thiết của việc học ngoại ngữ”.
-Vận dụng kĩ năng viết bài văn nghị luận xã hội, kết hợp các thao tác giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, bác bỏ và liên hệ.
- Xác định đúng vấn đề nghị luận
- Kết hợp lí lẽ chặt chẽ với dẫn chứng tiêu biểu, xác thực, phù hợp để làm sáng tỏ các luận điểm.
- Bài viết cần bảo đảm bố cục ba phần, lập luận logic, diễn đạt trong sáng, mạch lạc, dung lượng khoảng 600 chữ.
1. Mở bài
Giới thiệu và dẫn dắt vào vấn đề cần nghị luận: sự cần thiết của việc học ngoại ngữ
2. Thân bài
a. Giải thích
- Ngoại ngữ là ngôn ngữ được sử dụng bên ngoài ngôn ngữ mẹ đẻ của một cá nhân hoặc cộng đồng.
- Học ngoại ngữ là quá trình tiếp nhận, rèn luyện khả năng nghe, nói, đọc, viết và sử dụng một ngôn ngữ khác để giao tiếp, học tập, làm việc.
b. Phân tích: Sự cần thiết việc học ngoại ngữ
- Thế giới đang trong thời kì hội nhập, phát triển, việc biết thêm ngoại ngữ sẽ giúp cho bản thân mỗi người có lợi thế trong việc giao tiếp và làm việc, mở ra cho ta nhiều cơ hội hơn.
- Thực tế trong cuộc sống những người biết được nhiều hơn một ngôn ngữ sẽ có nhiều cơ hội nghề nghiệp cũng như có thêm cơ hội được làm việc ở một đất nước khác, khám phá những nền văn hóa khác.
- Mỗi quốc gia có một ngôn ngữ khác nhau, khi ta hiểu và nắm rõ ngôn ngữ đó, sử dụng thành thạo ngôn ngữ đó, ta như được hòa nhập vào đất nước đó và giúp ta mở mang thêm nhiều kiến thức, học tập được những điều hay, lẽ phải.
c. Chứng minh
Học sinh tự lấy dẫn chứng về những người tích cực học tập ngoại ngữ và đã đạt được những cơ hội quý báu để minh họa cho bài làm văn của mình.
d. Phản đề
- Không nên tuyệt đối hóa vai trò của ngoại ngữ.
- Ngoại ngữ chỉ thực sự phát huy giá trị khi đi cùng kiến thức chuyên môn, kĩ năng, thái độ và năng lực thực tế.
- Phê phán những người xem nhẹ việc học ngoại ngữ, thiếu ý thức rèn luyện hoặc học theo phong trào nhưng không kiên trì sử dụng.
- Đồng thời, cũng cần tránh tâm lí chạy theo chứng chỉ, coi chứng chỉ ngoại ngữ là mục tiêu duy nhất mà bỏ qua năng lực sử dụng thực chất.
e. Bài học và liên hệ bản thân
- Mỗi người, đặc biệt là người trẻ, cần nhận thức được giá trị của ngoại ngữ và chủ động xây dựng phương pháp học phù hợp.
- Không nhất thiết phải học quá nhiều ngôn ngữ; quan trọng là lựa chọn một ngoại ngữ phù hợp, học đều đặn và chú trọng khả năng sử dụng thực tế.
3. Kết bài
Khái quát lại vấn đề nghị luận: sự cần thiết của việc học ngoại ngữ





