Đề thi tham khảo giữa học kì 1 Văn 11 - Đề số 5
I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau:
(Tóm tắt đoạn trước: Sau khi từ Sài Gòn trở về vì đau tim, Thứ bị thất nghiệp. Đích anh họ Thứ chung vốn với Oanh, vợ chưa cưới của Đích, mở một trường tư ở ngoại ô Hà Nội. Do được bổ đi làm ở xa, Đích mượn Thứ đứng chân hiệu trưởng và mời dạy mấy lớp trên. Ban đầu, Thứ rất hào hứng, tận tâm nhưng chỉ ít lâu, anh chán nghề… Bao nhiêu tiền thu được đều vào túi Oanh. Oanh không những bóc lột sức lao động của Thứ và San (một giáo viên của trường, dạy các lớp dưới) mà khi nấu cơm cho họ, Oanh bắt họ ăn uống quá kham khổ. Nhiều lần Thứ định nói chuyện dứt khoát với Oanh để giải thoát cho mình và tổ chức lại cái trường cho tử tế. Nhưng bản tính nhút nhát, do dự, sợ va chạm nên Thứ cứ ngần ngại, để tình trạng nặng nề kéo dài. Cuộc sống chung đụng ngày càng không chịu đựng nổi vì thói keo bẩn, thớ lợ của Oanh. Thứ bực và buồn lắm vì thấy rằng cuộc sống với người nhỏ nhen thì mình cũng thành nhỏ nhen.)
(1) Thứ không đáp. Y ngẫm nghĩ. Mặt y hằm hằm và đôi môi y chụm lại. Rồi y hằn học bảo:
- Kiếp chúng mình, tức lạ. Sao mà cái đời nó tù túng, nó chật hẹp, nó bận tiện thế! Không bao giờ dám nhìn cao một tí. Chỉ những lo ăn, lo mặc. Hình như tất cả những nguyện vọng, những mong ước, tất cả mục đích của đời chúng mình, chỉ là mỗi ngày hai bữa. Bao nhiêu tài trí, sức lực lo tính đều dùng vào việc ấy. Khổ sở cũng vì thế, nhục nhã cũng vì thế, mỏi mòn tài năng, trí óc, giết chết những mong muốn đẹp, những hi vọng cao xa cũng vì thế nốt. Lúc nào cũng lo chết đói. Lúc nào cũng làm thế nào cho không chết đói! Như vậy thì sống làm gì cho cực?
(2) Thứ vẫn không thể nào chịu được rằng sống chỉ làm thế nào cho mình và vợ con có cơm ăn, áo mặc thôi. Sống là làm một cái gì đẹp hơn nhiều, cao quý hơn nhiều. Mỗi người sống, phải làm thế nào cho phát triển đến tận độ những khả năng của loài người chứa đụng trong mình. Phải gom sức lực của mình vào công cuộc tiến bộ chung. Mỗi người chết đi, phải để lại một chút gì đó cho nhân loại. Có thú vị gì là cái lối sống co quắp vào mình, cái lối sống quá ư là loài vật, chẳng còn biết một việc gì ngoài việc kiếm thức ăn đổ vào dạ dày. Có ai muốn gục mặt xuống làm gì? Đau đớn thay cho những kiếp sống khao khát muốn lên cao nhưng lại bị áo cơm ghì sát đất. Hỡi ôi! Người ta đã lãng phí bao nhiêu tâm huyết, bao nhiêu công lao để thoát khỏi loài người. Giê-su đã phải đổ máu ra. Thích Ca đã phải từ bỏ tất cả những phú quý vinh hoa của đời mình. Vô ích cả, chừng nào nhân loại chưa thoát khỏi xiềng xích của cái đói và cái rét. Thứ thường có những lúc sực nhớ đến trong những cao vọng của mình xưa, ngán ngẩm buồn, tiếc cho mình. Y cứ đinh ninh rằng giá y không bị nghèo thì có lẽ y không đến nỗi đớn hèn thế này đâu. Có lẽ y sẽ làm được một cái gì. Biết bao nhiêu tài năng không nảy nở được, chỉ vì không gặp được một cái hoàn cảnh tốt!...
(Nam Cao, Sống mòn, in trong Tuyển tập Nam Cao, tập 2, NXB Văn học, Hà Nội, 2005, Tr.259-260)
Xác định ngôi kể được sử dụng trong đoạn trích trên.
Vận dụng kiến thức về người kể chuyện: xác định dấu hiệu nhận biết qua đại từ xưng hô, cách kể
Đoạn trích được kể theo ngôi thứ ba.
Trong đoạn (1), theo nhân vật Thứ, “kiếp chúng mình” có đặc điểm gì?
- Đọc kĩ đoạn văn, xác định những từ ngữ, hình ảnh trực tiếp thể hiện suy nghĩ, đánh giá của nhân vật.
- Chú ý các chi tiết miêu tả hoàn cảnh sống và bi kịch tinh thần của nhân vật.
Trong đoạn trích (1), theo nhân vật Thứ, “kiếp chúng mình” là những người phải sống cuộc đời tù túng, chật hẹp, bần tiện, không quan tâm được đến những điều cao quý mà chỉ quanh quẩn lo ăn, lo mặc, đặc biệt là lo hai bữa ăn mỗi ngày; họ sống khổ sở, nhục nhã, không phát triển được tài năng, trí óc của bản thân, chỉ sợ chết đói.
Nêu tác dụng của những câu hỏi tu từ có trong đoạn trích trên.
- Vận dụng kiến thức về biện pháp tu từ câu hỏi tu từ.
- Đọc kĩ văn bản để xác định (dựa vào hình thức câu hỏi)
- Đoạn trích có các câu hỏi tu từ sau:
+ Như vậy thì sống làm gì cho cực?
+ Có ai muốn gục mặt xuống làm gì?
- Tác dụng:
+ Thể hiện sự day dứt, đau đớn, chán chường của nhân vật Thứ trước cuộc sống nghèo khổ, bế tắc.
+ Nhấn mạnh bi kịch của con người khi bị cái đói, cái nghèo kìm hãm, không thể thực hiện những khát vọng tốt đẹp.
+ Góp phần thể hiện tư tưởng nhân đạo của Nam Cao: sự cảm thương đối với những con người có tài năng, khát vọng nhưng bị hoàn cảnh vùi dập.
Anh (chị) cảm nhận nhân vật Thứ trong đoạn trích là người như thế nào? Qua nhân vật nhà văn muốn thể hiện tư tưởng gì?
- Tìm hiểu hoàn cảnh, suy nghĩ, hành động, phẩm chất nhân vật.
- Từ nhân vật rút ra tư tưởng, thông điệp của tác giả.
- Nhân vật Thứ trong đoạn trích là người trí thức có nhiều suy nghĩ tích cực, tiến bộ nhưng bị cái đói, cái nghèo làm cho phải sống cuộc sống tù túng, chật hẹp, đớn hèn, cơ cực…Thứ muốn làm nhiều điều tốt đẹp nhưng bị “cuộc sống cơm áo gạo tiền ghì sát đất”, rơi vào bi kịch. Tuy nhiên, nhân vật luôn khao khát được vươn lên và có cuộc sống tốt đẹp hơn.
- Quan nhân vật, nhà văn muốn thể hiện sự thấu hiểu, đồng cảm, chia sẻ với nhân vật; nêu lên bi kịch của những người trí thức trong xã hội cũ.
Anh/Chị có đồng tình với quan điểm “Biết bao nhiêu tài năng không nảy nở được, chỉ vì không gặp được cái hoàn cảnh tốt!” không? Vì sao? (Trả lời trong khoảng 7 – 10 dòng)
- Nêu rõ quan điểm đồng tình/không đồng tình.
- Lí giải bằng lập luận hợp lí.
- Có thể mở rộng vấn đề.
- HS bày tỏ sự đồng tình hoặc phản đối quan điểm của Thứ: Biết bao nhiêu tài năng không nảy nở được, chỉ vì không gặp được cái hoàn cảnh tốt!”
+ Nếu đồng tình, cần nhấn mạnh hoàn cảnh tốt sẽ tạo điều kiện cho tài năng nảy nở.
+ Nếu phản đối, cần nhấn mạnh con người phải biết vượt lên hoàn cảnh, kiên định với lí tưởng của mình. Đôi khi nghịch cảnh lại là động lực để con người quyết tâm vươn đến những điều tốt đẹp hơn.
II. VIẾT
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích ý nghĩa của việc sử dụng những chất liệu văn hóa dân gian trong đoạn thơ sau:
Nhưng lạ lùng thay, nhân dân thông minh
Không hề lừa ta dù ca dao, cổ tích
Ta lớn lên bằng niềm tin rất thật
Biết bao nhiêu hạnh phúc có trên đời
Dẫu phải khi cay đắng dập vùi
Rằng cô Tấm cũng về làm hoàng hậu
Cây khế chua có phượng hoàng đến đậu
Chim ăn rồi trả ngon ngọt cho ta
Đất đai cỗi cằn thì người sẽ nở hoa
Hoa của đất, người trồng cây dựng cửa
Khi ta đến gõ lên từng cánh cửa
Thì tin yêu ngay thẳng đón ta vào
Ta nghẹn ngào, Đất Nước Việt Nam ơi!...
(Nguyễn Khoa Điềm, Đất Nước, in trong tập Thơ Việt Nam 1945- 1985, NXB Giáo dục, 1985, tr 185)
- Vận dụng kiến thức về phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ.
- Khi phân tích chất liệu văn hóa dân gian cần chú ý:
+ Nhận diện các yếu tố dân gian.
+ Phân tích ý nghĩa của việc đưa chất liệu dân gian vào thơ.
+ Đánh giá vai trò trong việc thể hiện tư tưởng tác phẩm.
- Mở đoạn: Nêu được đoạn trích, xuất xứ của đoạn trích; khái quát được ý nghĩa của việc sử dụng những chất liệu văn hóa dân gian trong đoạn trích.
- Thân đoạn:
+ Chỉ ra được những chất liệu văn hóa dân gian và cách sử dụng chúng trong đoạn thơ đa nêu (gọi tên các thể loại của văn học dân gian như ca dao, cổ tích; nêu quan điểm của nhân dân thể hiện trong các câu chuyện cổ tích; nêu tên một số nhân vật trong các câu chuyện cổ tích….).
+ Nêu được ý nghĩa sử dụng các chất liệu văn hóa dân gian trong đoạn thơ đã nêu (thể hiện sự hiểu biết sâu rộng của tác giả về văn học dân gian; gợi cho người đọc nhớ về các thể loại và tác phẩm đặc sắc, gần gũi, phổ biến….)
- Kết đoạn: Đánh giá khái quát ấn tượng sâu đậm của bản thân về những chất liệu văn học dân gian đã được sử dụng trong đoạn thơ.
Viết bài văn (khoảng 600 chữ) bàn về vấn đề: Tuổi trẻ và lòng nhân ái.
- Xác định đúng vấn đề nghị luận
- Vận dụng thao tác lập luận giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, bác bỏ và rút ra bài học nhận thức, hành động.
- Kết hợp lí lẽ và dẫn chứng từ đoạn trích, thực tiễn đời sống để làm sáng tỏ vấn đề.
- Bố cục bài viết đảm bảo ba phần: Mở bài, Thân bài, Kết bài.
1. Mở bài
Dẫn dắt và nêu vấn đề nghị luận: Tuổi trẻ cần nuôi dưỡng và lan tỏa lòng nhân ái.
2. Thân bài
a. Giải thích:
- Tuổi trẻ: là giai đoạn con người có sức khỏe, tri thức, nhiệt huyết, khả năng sáng tạo và khát vọng cống hiến.
- Lòng nhân ái: là tình yêu thương, sự quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ giữa con người với con người.
Được thể hiện qua sự đồng cảm với những hoàn cảnh khó khăn, biết sống trách nhiệm với cộng đồng.
b. Bàn luận
- Tuổi trẻ cần có lòng nhân ái bởi đây là phẩm chất quan trọng góp phần hoàn thiện nhân cách con người.
+ Lòng nhân ái giúp người trẻ biết quan tâm, thấu hiểu người khác, vượt qua lối sống ích kỉ, chỉ nghĩ đến lợi ích cá nhân.
+ Một người trẻ có lòng yêu thương sẽ biết sống trách nhiệm hơn với gia đình, bạn bè và xã hội.
- Lòng nhân ái giúp tuổi trẻ tạo ra những giá trị tốt đẹp cho cộng đồng.
+ Những hành động sẻ chia dù nhỏ bé như giúp đỡ người gặp khó khăn, tham gia hoạt động thiện nguyện, bảo vệ môi trường, hỗ trợ cộng đồng… đều góp phần lan tỏa những điều tích cực.
+ Khi người trẻ biết sống vì người khác, xã hội sẽ trở nên gắn kết, văn minh và nhân văn hơn.
- Lòng nhân ái là nguồn động lực giúp con người vượt qua khó khăn, thử thách trong cuộc sống.
+ Sự quan tâm, sẻ chia từ cộng đồng có thể đem đến niềm tin, hi vọng và sức mạnh tinh thần cho những người đang gặp trở ngại.
+ Chính những hành động nhân ái cũng giúp người trẻ nhận ra ý nghĩa của cuộc sống, biết trân trọng những giá trị tốt đẹp xung quanh.
c. Mở rộng, phản biện:
- Phê phán một bộ phận người trẻ sống thờ ơ, ích kỉ, chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân.
- Nhân ái cần đi cùng với sự tỉnh táo, đúng cách, tránh giúp đỡ thiếu suy nghĩ.
d. Bài học nhận thức và hành động
- Mỗi người trẻ cần nhận thức rằng lòng nhân ái là một giá trị không thể thiếu để hoàn thiện bản thân và xây dựng xã hội tốt đẹp.
- Biết yêu thương, quan tâm đến gia đình, bạn bè và những người xung quanh.
- Sẵn sàng chia sẻ, giúp đỡ người gặp khó khăn bằng những hành động phù hợp.
- Chủ động tham gia các hoạt động xã hội, lan tỏa những hành động đẹp.
- Không ngừng học tập, rèn luyện để có khả năng giúp đỡ người khác một cách hiệu quả.
3. Kết bài
Khẳng định lại sự cần thiết của lối sống, phẩm chất nhân ái ở người trẻ tuổi.





