Đề thi tham khảo giữa học kì 1 Văn 11 - Đề số 4
I. ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn trích sau:
Ông già Tư Nhỏ thức dậy từ lúc nửa đêm. Ông rên lên một tiếng ứ hự, thấy thất vọng khi nghe lòng mình vẫn còn đau. Có một niềm khát khao đến cháy bỏng, ông vẫn thường ước ao một lần nào đó đánh giấc thật sâu, khi trở dậy nỗi đau ấy biến mất, không còn dấu vết, như thể nó chưa từng có trên đời. […]
Tình cha con đã như nước chảy xuống kẽ tay từ một ngàn năm trăm mười hai ngày trước. Cái ngày con Nga rầu rầu xin ra Chợ Cũ thăm má nó. Ông gật đầu, thì người đàn bà đó hơn một năm rồi chẳng về, tưởng đã quên mất con đường quay lại Xẻo Mê. Ai dè chiều hôm sau má con Nga tong tả xông vào nhà, níu ao ông mà rằng:
- Sao anh hại đời con gái tôi đến nỗi nó phải mang bầu...
Ông Tư kêu lên một tiếng trời ơi. Tôi là người như vậy sao, Cúc ơi, tôi mà là người như vậy à. Cúc biết tôi từng ấy năm trời, sao lại gieo cho tôi cái tội mà chỉ nghĩ đến thôi đã xấu xa… Nhưng chẳng kịp mặc cái áo khô vào để phân trần, công an xã đến mời ông đi. Má con Nga theo sau, la khóc. Mọi người bàng hoàng ngó nhau, đâu nè, anh Tư Nhỏ hồi nào giờ ở đời tử tế, chị đã dò hỏi kỹ chưa, con Nga nó nói vậy à. Không, con Nga nó không chịu nói tên người đó, bà con cô bác nghĩ coi, ai mà nó không dám kêu tên... Ai trồng khoai đất này…
Lúc con Nga hay được thì ông Tư đã bị nhốt năm ngày. Nó trốn má về, chạy thẳng ra xã xin ông ra. Nó sụp lạy ông ngay trụ sở Uỷ ban, nó khóc, “Ba ơi, tại con hư, con làm ba khổ, ba tha lỗi cho con, nghen ba”. Ông đỡ nó dậy, cười mếu máo, “Thôi con, đứng dậy, về. Chuyện qua rồi …”. […]
Rồi người trước người sau, họ trở về căn nhà nhỏ bên kinh Xẻo Mê. Căn nhà từ đây trở đi nằm chơ vơ trong ánh mắt cười cợt, trong lời đàm tiếu của người đời. […]
Ông Tư mua than đước dự trữ trong nhà, đưa con Nga ít tiền ra chợ sắm sửa cho đứa bé sắp chào đời. Ông còn chuẩn bị cả vỏ tỏi, hạt mè để làm thuốc cho con Nga những ngày ở cử. Ông ngượng ngịu bảo, “Cái này… tao biết là vì… hồi má bây sinh…”. […]
Đứa trẻ ngày xưa bây giờ đã làm mẹ một đứa trẻ khác, cũng môi đỏ, mắt đen. Hôm ở trạm xá về, ở xóm người ta lại thăm nườm nượp, không kịp nhìn đứa trẻ, nắc nẻ khen liền: “Trời ơi thiệt là giống chú Tư quá hen”. Có người chưa đi quá cái miễu ông Tà đã cười cợt bàn với nhau, hỏng biết thằng nhỏ kêu ông Tư Nhỏ là gì ha, là ngoại hay cha. Ông đang quạt mẻ than, nghe câu ấy thảng thốt nhìn tro bụi tơi bời, con gái nỉ non, ba ơi, kệ con, coi chừng người ta thấy, nói tới nói lui. Ông già nổi quạu đùng đùng, “Thiên hạ phải để tôi sống đàng hoàng như một con người chớ”. Tiếng kêu nghe thấu đến trời, sao đồng loại con người không học cách hiểu nhau.
Đêm đó, ông thức trắng. Sáng ra con mắt trõm lơ, ông sửa soạn quẩy gói đi. Hai mẹ con Nga ọ ẹ lên tiếng trong nhà, ông Tư nói vói vô, “Bây có muốn mua gì không, tao đi huyện nè…”. Trời, đi chi vậy ba... Ông nói ông cũng chưa biết nữa, nhưng dù không biết phải bắt đầu từ đâu cũng phải đòi lại danh dự cho mình, cho con Nga và thằng cháu ngoại, đòi lại những niềm vui đã bị người đời tước đoạt.
[…] Một bữa có đoàn cán bộ huyện về khánh thành con đường giao thông nông thôn từ Xẻo Mê về Phước Hậu. Nghe nói họ sẽ đi qua nhà (đi một khúc để Đài truyền hình quay phim), con Nga bèn cầm chổi ra sân quét lá. Thấy bóng người quen, Nga gọi nhỏ, anh gì ơi. […]. Người nọ đứng ngây ra, mặt tái như mặt gà mái, hồi lâu mới hỏi: “Bây giờ… Nga muốn gì…”. Con Nga giả đò chưng hửng, “Ủa, vậy mấy lần ba tui lên huyện kêu oan, anh không gặp sao, anh biết ba tui khổ sao anh im re vậy...”. Nói rồi nó đủng đỉnh đi vô, kêu thầm, trời ơi, người này, hồi đó với mình nồng mặn biết bao nhiêu, khi anh ta say công danh mà bỏ rơi mình, mình đã đau vất đau vả. Sao bây giờ gặp nhau, thấy nản không muốn nhìn mặt. Thì ra, tình cảm cũng như bát nước hắt đi, không mong gì hốt lại.
Rồi một trưa đầy nắng, mây trên trời xanh lẻo xanh lơ, trước giờ ca cải lương, đài truyền thanh xã gởi đi lời xin lỗi của chính quyền đối với công dân Dương Văn Nhỏ. Đơn giản, gọn hơ, nhẹ nhõm. Vậy là huề nghen. Cái câu dài thê thiết những dấu phẩy, dấu chấm lửng cuối cùng cũng được người ta chấm cái rột. Ông Tư lúc đó đang móc đất nắn trâu cho thằng Sáng chơi, khóc hức lên vì không cầm lòng được, sao kỳ vậy cà, người ta đã giải oan cho mình rồi, đã xin lỗi mình rồi sao mình vẫn mãi đau.
(Trích Đau gì như thể…, Nguyễn Ngọc Tư, Tuyển tập truyện ngắn - http://vanhoc.quehuong.org/viewtruyen.php?cat=13&ID=2707, truy cập ngày 17/8/2023)
Xác định ngôi kể trong văn bản.
Xác định ngôi kể thông qua đại từ xưng hô và cách người kể thuật lại câu chuyện.
Người kể chuyện ngôi thứ 3
Người kể chuyện đặt điểm nhìn ở đâu khi miêu tả những cảm xúc của ông Tư Nhỏ lúc nhận được lời xin lỗi của chính quyền?
Xác định điểm nhìn trần thuật qua những suy nghĩ, cảm xúc được người kể tái hiện.
Người kể chuyện đặt điểm nhìn vào nhân vật ông Tư Nhỏ
Đoạn trích cho thấy ông Tư Nhỏ là người có tính cách như thế nào?
Phân tích lời nói, hành động, suy nghĩ của nhân vật để khái quát đặc điểm tính cách.
- Qua đoạn trích, ông Tư Nhỏ hiện lên là người:
+ Hiền lành, lương thiện, giàu lòng yêu thương, bao dung, vị tha.
+ Biết giữ gìn danh dự, phẩm giá của bản thân.
+ Giàu lòng tự trọng, luôn khao khát được minh oan và được đối xử công bằng.
Em có đồng tình với thái độ, cách hành xử của những người dân xã Xẻo Mê với ông Tư Nhỏ khi hiểu lầm ông là kẻ loạn luân hay không?
Bày tỏ quan điểm cá nhân và lí giải hợp lí, thuyết phục.
Đồng tình hoặc không đồng tình và đưa ra lí giải hợp lí
Gợi ý: Không đồng tình vì:
+ Họ nông nổi, ngây thơ tin vào bề nổi của câu chuyện mà không suy xét xem từ trước đến nay bản chất Ông Tư Nhỏ là người như thế nào, họ đánh giá và phán xét ông chỉ qua một vài câu nói và vẻ bề ngoài của câu chuyện
+ Chúng ta nên tìm hiểu kĩ sự việc, lắng nghe tiếng nói của người trong cuộc và có cách hành xử nhân văn hơn trong những trường hợp tương tự
Qua nhân vật ông Tư Nhỏ, tác giả thể hiện thái độ như thế nào đối với những con người không may rơi vào cảnh ngộ éo le?
Khái quát thái độ, tư tưởng của tác giả thông qua cách xây dựng nhân vật và nội dung văn bản.
- Qua nhân vật ông Tư Nhỏ, tác giả thể hiện:
+ Sự cảm thông, xót thương trước những số phận bất hạnh.
+ Sự trân trọng phẩm chất lương thiện, nhân hậu của người lao động nghèo.
+ Phê phán những định kiến, lời đồn và sự vô cảm có thể làm tổn thương con người.
+ Gửi gắm thông điệp về sự công bằng, lòng bao dung và khát vọng bảo vệ danh dự của mỗi con người.
II. VIẾT
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật “bà cô tôi” trong đoạn văn sau:
Một đại gia đình gồm hai con trai, hai con dâu, một gái, một rể và những đứa con của họ vẫn sống chung dưới một mái nhà, ăn chung một bếp ăn. Thiên hạ thì chia ra, bà cụ lại gom vào. Vẫn rất êm thấm mới lạ chứ. Nếp nhà đã thắng được tự do của cá nhân sao? Phải nói thêm, cái nếp nhà này cũng ít ai theo kịp. Người con dâu cả vốn là con gái Hàng Bồ, đỗ đại học, là một cô gái kiêu hãnh, tự tin, không dễ nhân nhượng. Ai cũng nghĩ hai người đàn bà, một già một trẻ, cùng sắc sảo sẽ rất khó chấp nhận nhau. Vậy mà họ ăn ở với nhau đã mười lăm năm chả có điều tiếng gì. Người chị của cô con dâu đến nói với bà cô tôi: “Bác chịu được tính nó thì con cũng phục thật đấy”. Bà cải chính: “Đúng là tôi có phần phải chịu nó nhưng nó cũng có phần phải chịu tôi, mỗi bên chịu một nửa”…
[…]
Năm ngoái khu phố có yêu cầu bà cụ báo cáo về nếp sống gia đình cho hàng phố học tập. Bà từ chối, khi tôi lại thăm, bà nói riêng: “Cái chuyện ấy ai cũng biết cả, chỉ khó học thôi”. Tôi cười:
“Lại khó đến thế sao”? Bà cụ nói: “Trong nhà này, ba đời nay, không một ai biết tới câu mày, câu tao. Anh có học được không”? À, thế thì khó thật. Theo bà cụ, thời bây giờ có được vài trăm cây vàng không phải là khó, cũng không phải là lâu, nhưng có được một gia đình hạnh phúc phải mất vài đời người, phải được giáo dục vài đời. Hạnh phúc không bao giờ là món quà tặng bất ngờ, không thể đi tìm, mà cũng không nên cầu xin. Nó là cách sống, một quan niệm sống, là nếp nhà, ở trong tay mình, nhưng nhận được ra nó, có ý thức vun trồng nó, lại hoàn toàn không dễ.”
(Trích Nếp nhà – Nguyễn Khải, dẫn theo Tuyển tập Nguyễn Khải, tập III, NXB Văn học, 1996)
Vận dụng kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học: giới thiệu nhân vật, phân tích các đặc điểm tiêu biểu qua chi tiết, lời nói; nhận xét nghệ thuật xây dựng nhân vật và đánh giá ý nghĩa.
- Giới thiệu khái quát nhân vật "bà cô tôi" trong đoạn trích.
- Phân tích những phẩm chất nổi bật của nhân vật:
+ Là người phụ nữ từng trải, thông minh, khéo léo trong cách ứng xử và xây dựng gia đình.
+ Có quan niệm đúng đắn về hạnh phúc: biết tôn trọng, nhường nhịn, chia sẻ với các thành viên trong gia đình
+ Đề cao nền nếp gia đình, văn hóa ứng xử và giáo dục truyền thống; coi hạnh phúc là kết quả của quá trình vun đắp bền bỉ qua nhiều thế hệ.
+ Khiêm nhường, chân thành, không tự đề cao bản thân.
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật:
+ Khắc họa chủ yếu qua lời nói, đối thoại và những chi tiết đời thường giàu ý nghĩa.
+ Ngôn ngữ mộc mạc, tự nhiên, giàu tính triết lí.
- Đánh giá: Nhân vật bà cô tôi là hình ảnh tiêu biểu của người phụ nữ Việt Nam giàu kinh nghiệm sống, góp phần làm nổi bật tư tưởng của tác phẩm về giá trị của nếp nhà và hạnh phúc gia đình.
Tuổi trẻ không là khái niệm chỉ một giai đoạn trong đời người, mà chỉ một trạng thái tâm hồn. Tuổi trẻ không nhất thiết phải gắn liền với sức khỏe và vẻ tráng kiện bên ngoài, mà lại gắn với ý chí mạnh mẽ, trí tưởng tượng phong phú, sự mãnh liệt của tình cảm và cảm nhận phấn khởi với suối nguồn cuộc sống.
Tuổi trẻ thể hiện ở lòng can đảm chứ không phải tính nhút nhát, sở thích phiêu lưu trải nghiệm hơn là ở sự tìm kiếm an nhàn. Những đức tính đó thường dễ thấy ở những người năm sáu mươi hơn là ở đa số thanh niên tuổi đôi mươi. Không ai già đi vì tuổi tác, chúng ta chỉ già đi khi để tâm hồn mình héo hon. [...]
(Trích Điều kỳ diệu của thái độ sống – Mac Anderson, tr.68,NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2017)
Anh/Chị có đồng tình với quan điểm trên không? Hãy trình bày suy nghĩ của bản thân qua một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ).
- Xác định đúng vấn đề nghị luận
- Vận dụng thao tác lập luận giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, bác bỏ và rút ra bài học nhận thức, hành động.
- Kết hợp lí lẽ và dẫn chứng từ đoạn trích, thực tiễn đời sống để làm sáng tỏ vấn đề.
- Bố cục bài viết đảm bảo ba phần: Mở bài, Thân bài, Kết bài.
1. Mở bài
- Dẫn dắt và giới thiệu vấn đề
- Nêu quan điểm về nhận định: tuổi trẻ trước hết là trạng thái tinh thần, ý chí và khát vọng sống.
2. Thân bài
a. Giải thích
- Tuổi trẻ không chỉ là một giai đoạn của đời người mà còn là trạng thái tâm hồn.
- Người có tâm hồn trẻ là người luôn nhiệt huyết, giàu ước mơ, dám nghĩ, dám làm, dám vượt qua thử thách.
b. Bàn luận về ý kiến
- Đồng tình với quan điểm: Tuổi trẻ trước hết là sức sống tinh thần
Con người chỉ thực sự trẻ khi luôn giữ được:
+ Ý chí mạnh mẽ: không dễ dàng đầu hàng trước khó khăn, luôn nỗ lực vươn lên.
+ Trí tưởng tượng và khả năng sáng tạo: dám nghĩ khác, tìm kiếm những cách làm mới.
+ Niềm say mê với cuộc sống: biết yêu thương, khám phá và tận hưởng những điều tốt đẹp.
+ Tinh thần dám trải nghiệm: không ngại thử thách để trưởng thành.
HS lựa chọn và sử dụng dẫn chứng phù hợp
c. Mở rộng, phản biện
- Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng tuổi trẻ về mặt sinh học vẫn có ý nghĩa quan trọng:
+ Đây là giai đoạn con người có nhiều lợi thế về sức khỏe, khả năng học hỏi và thích nghi.
+ Những năm tháng thanh xuân là thời điểm thuận lợi để thực hiện ước mơ và tạo dựng tương lai.
d. Bài học nhận thức và hành động
- Nhận thức: Tuổi tác không quyết định hoàn toàn sự trẻ trung của con người. Điều quan trọng là mỗi người phải biết nuôi dưỡng một tâm hồn giàu nhiệt huyết, luôn hướng về phía trước.
- Không ngừng học tập, rèn luyện ý chí.
- Dám thử sức với những điều mới mẻ.
- Giữ thái độ sống tích cực, yêu thương và cống hiến.
- Không để sự sợ hãi, thất vọng khiến tâm hồn trở nên già nua.
3. Kết bài
Khẳng định lại giá trị của nhận định.





