Đề thi tham khảo giữa học kì 1 Văn 11 - Đề số 3
I. ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn trích sau:
Một bữa đổi gió, ba lôi từ hộc tủ ra một bọc đất sét. Len lén lúc mẹ sơ hở, ba chớp lấy cái thau inox, đổ vào chút nước rồi ngồi nghịch đất với đôi mắt sáng lung linh. Đứa con không biết tại sao nhà mình lại có bọc đất sét đó. Hỏi mẹ thì mẹ cười, “hồi ba mầy còn khỏe, ổng về quê móc cục đất sét ở bên hông nhà mang lên đây. Mỗi lúc nhớ đất quá, ổng lôi ra hít hà cho đỡ nhớ”.
Đó là hồi mà ba đang đứng sát ngạch cửa của nỗi nhớ và quên. Những chuyến về quê nhiều hơn nhưng vẫn không làm đứa con lo lắng. Nghĩ rằng ba mình tới tuổi hưu rồi, ngoài giữ nhà giữ cháu thì lâu lâu ông về quê một hai hôm có sao đâu. Nhưng đứa con đâu biết, ông về rồi lại trở lên phố ngay, mà lòng ông thì cứ hoài nặng trĩu như người mắc nợ phù sa.
Hồi còn khỏe mạnh, ba hay kể về xứ sở phù sa của ông, tổ tiên mình là những cư dân đầu tiên đi mở cõi phương Nam. Các cụ đã khai hoang, lập làng, đào kinh dẫn nước; mở mang nên một miền châu thổ phì nhiêu. Ba tự hào khoe với mấy ông bạn già trên phố rằng mình là dân gốc xứ Xẻo Bần, cái xóm nhỏ năm xưa không có một viên đạn. Chỉ mấy tổ ong rừng mà đánh tan một tiểu đoàn giặc, được phong xóm Xẻo anh hùng. Hay chuyện rằng “ở quê tui, có trái giác nấu canh chua lươn thì ngon bà lạy!”. Những món ăn dân dã và đậm chất miệt vườn của ba làm mấy ông bạn gốc người thành phố, khoái chí ao ước: “Phải chi tui cũng có một miền quê yên ả như ông”.
Đứa con thì không quan tâm nhiều đến gốc tích và những món ăn kia. Nguyên quán Xẻo Bần ghi trong chứng minh thư với đứa con chỉ là mớ ký ức chập chờn, rằng một bữa sau cơn bão dữ, xóm làng tan tác, nhà cửa bị trốt[1] cuốn tan hoang. Ba mẹ bò ra từ trong đống đổ nát quờ tìm đứa con trong đêm tiếng gió gào trộn lẫn tiếng khóc thét thê lương. Nương theo quán tính của tiếng khóc đứa con, ba mẹ tìm được nó bị mắc kẹt ở một nhánh cây. Vừa khóc, ba mẹ vừa bồng đứa nhỏ chạy trối chết. Thấy gió thì tìm chỗ trú, bớt chút lại đi. Tờ mờ sáng tới bến tàu đò, trong nỗi hoang mang còn vương trên đôi mắt, ba mẹ bấm bụng bán đôi nhẫn cưới rồi lên tàu đò rời quê đi thật xa, thật xa.
Chuyến ra đi, rời mảnh đất Xẻo Bần bốn đời chôn giữ dây rốn lá nhau, ban đầu vì nỗi ám ảnh tột cùng của cơn bão dữ. Vì xóm làng đã hóa bình địa như một trận bom rơi, và cũng vì những người thân không còn nữa, sau bão. Nhưng dần dà, nỗi nhớ quê hương át đi nỗi sợ. Nỗi nhớ như cây bần cây đước bị đổ ngã, bão lặng rồi thì bám đất đâm rễ vươn lên. Hơi thở đồng quê không thôi cựa mình trong ba, làm ông có ý muốn quay về. Lúc ấy cũng là lúc đứa con vừa vào lớp một, nó đã bén rễ, hòa vào hơi thở phố phường. Ba mẹ không nỡ bứng đứa con về đất Xẻo Bần xa xôi, đường đến trường lụy mấy chuyến đò. “Mình khổ cực cách mấy cũng được, nhưng ráng không để con ngu dốt. Hy sinh nửa đời mình để con có cuộc sống đủ đầy hơn. Rồi khi nó ổn định cuộc đời, yên bề gia thất thì mình sẽ về”. Lời tâm sự cũng là lời thề nguyện của ba mẹ dúi vào lòng nhau, dúi thật sâu vào mơ ước cuối đời, như ngọn đèn nhấp nháy phía cuối đường tàu mà con tàu không biết bao giờ là đích đến.
Ba tin rằng,“thành phố không giết chết ai bao giờ, mình mến nó thì ắt nó sẽ mến mình”.
(Trích Người của đất, Lê Quang Trạng, in trên trang Hội nhà văn Việt Nam, ngày 22 tháng 02 năm 2023)
Chú thích:
Lê Quang Trạng sinh năm 1996, quê ở An Giang, là nhà văn trẻ ghi dấu ấn với nhiều thể loại. Anh thường viết về quê hương mình với giọng văn nhẹ nhàng, sâu lắng, đậm chất Nam bộ.
[1] trốt: cơn lốc
Xác định dấu hiệu nhận biết ngôi kể của đoạn trích.
- Vận dụng kiến thức về ngôi kể trong văn bản tự sự
- Xác định người kể chuyện có trực tiếp tham gia câu chuyện hay không và các đại từ, cách gọi nhân vật được sử dụng.
- Ngôi kể thứ ba
- Người kể chuyện giấu mình (ẩn danh)/ không xuất hiện trực tiếp trong câu chuyện
Chỉ ra chi tiết thể hiện lời giải thích của người mẹ khi có bọc đất sét trong nhà.
- Đọc kĩ đoạn văn
- Xác định chi tiết trả lời trực tiếp cho câu hỏi của người con về bọc đất sét.
Chi tiết thể hiện lời giải thích của người mẹ khi có bọc đất sét trong nhà:“hồi ba mầy còn khỏe, ổng về quê móc cục đất sét ở bên hông nhà mang lên đây. Mỗi lúc nhớ đất quá, ổng lôi ra hít hà cho đỡ nhớ”.
Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong câu văn sau:
“Lời tâm sự cũng là lời thề nguyện của ba mẹ dúi vào lòng nhau, dúi thật sâu vào mơ ước cuối đời, như ngọn đèn nhấp nháy phía cuối đường tàu mà con tàu không biết bao giờ là đích đến”.
- Vận dụng kiến thức về biện pháp tu từ so sánh
- Chỉ ra hình ảnh được so sánh và phân tích giá trị biểu đạt của phép so sánh trong việc thể hiện nội dung, cảm xúc.
- Biện pháp tu từ so sánh: Lời tâm sự, lời thề nguyện của ba mẹ như ngọn đèn nhấp nháy phía cuối đường tàu
- Tác dụng:
+ Giúp câu văn giàu hình ảnh, gây ấn tượng sâu sắc với người đọc.
+ Nhấn mạnh nỗi nhớ quê hương da diết, nỗi day dứt vì nguyện vọng trở về quê thật xa xôi, mơ hồ vẫn không thể thực hiện được ở cuối đời của nhân vật người cha.
+ Qua đó, tác giả thể hiện thái độ trân trọng trước tình yêu quê hương sâu sắc của ba.
Nhận xét tình cảm của người ba dành cho xứ Xẻo Bần trong đoạn trích.
- Đọc toàn bộ đoạn trích
- Tìm các chi tiết thể hiện tình cảm, thái độ, suy nghĩ của nhân vật người ba đối với quê hương, sau đó khái quát thành nhận xét.
Tình cảm của nhân vật người ba trong đoạn trích:
- Tự hào về lịch sử khai hoang, lập làng, dựng nước của cha ông.
- Tự hào về truyền thống đấu tranh anh hùng, bất khuất của người dân Xẻo Bần.
- Tình yêu quê hương xứ sở qua những món quê dân dã.
- Đánh giá: Đó là tình cảm thiêng liêng, cao đẹp, nhân văn
Hai ngữ liệu sau đây có sự tương đồng nào về ý nghĩa?
- “Hồi ba mầy còn khỏe, ổng về quê móc cục đất sét ở bên hông nhà mang lên đây. Mỗi lúc nhớ đất quá, ổng lôi ra hít hà cho đỡ nhớ”.
(Người của đất, Lê Quang Trạng)
- “Chị Sứ yêu biết bao nhiêu cái chốn này, nơi chị oa oa cất tiếng khóc đầu tiên, nơi quả ngọt, trái sai đã thắm hồng da dẻ chị”.
(Hòn Đất, Anh Đức)
- Đọc và đối chiếu hai ngữ liệu
- Xác định điểm gặp gỡ về nội dung tư tưởng giữa hai văn bản.
- Điểm tương đồng của hai ngữ liệu:
+ Đều thể hiện tình yêu tha thiết, sâu nặng của con người đối với quê hương – nơi chôn nhau cắt rốn, gắn bó với những kỉ niệm và cội nguồn của cuộc đời.
+ Đó là cơ sở để hình thành, mở rộng, khơi sâu tình yêu đất nước. Từ đó, khẳng định sự gắn bó với quê hương là nền tảng nuôi dưỡng tình yêu đất nước, ý thức về cội nguồn và bản sắc dân tộc.
II. VIẾT
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nghệ thuật trần thuật trong đoạn trích ở phần đọc hiểu.
- Vận dụng kiến thức về nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn: ngôi kể, điểm nhìn, giọng điệu, ngôn ngữ và tác dụng của các yếu tố đó đối với việc thể hiện chủ đề.
- Phân tích
+ Ngôi kể thứ ba tạo sự khách quan trong lời kể; điểm nhìn trần thuật: điểm nhìn của người kể chuyện và điểm nhìn của nhân vật được kể chuyện
+ Giọng kể nhẹ nhàng, sâu lắng
+ Ngôn ngữ kể chuyện giản dị, tự nhiên, giàu cảm xúc, giàu hình ảnh, giàu sức gợi, đậm chất Nam bộ
- Đánh giá:
+ Nghệ thuật trần thuật độc đáo, đặc sắc
+ Vai trò: góp phần thể hiện chủ đề của tác phẩm, làm nổi bật tình yêu quê hương sâu sắc của nhân vật người cha, phong cách độc đáo của tác giả.
Trong kỉ nguyên bùng nổ của công nghệ, các thiết bị như điện thoại thông minh, máy ảnh đã giúp con người lưu lại những thông tin, sự kiện, kí ức một cách lâu dài. Điều đó khiến không ít người cho phép bản thân được quyền lãng quên.
Từ góc nhìn của người trẻ, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của việc giữ gìn những kí ức chung của cộng đồng, dân tộc trong thời đại số.
- Xác định đúng vấn đề nghị luận: ý nghĩa của việc giữ gìn các kí ức chung của cộng đồng, dân tộc trong thời đại số.
- Vận dụng thao tác lập luận giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, bác bỏ và rút ra bài học nhận thức, hành động.
- Kết hợp lí lẽ và dẫn chứng từ đoạn trích, thực tiễn đời sống để làm sáng tỏ vấn đề.
- Bố cục bài viết đảm bảo ba phần: Mở bài, Thân bài, Kết bài.
1. Mở bài: Giới thiệu được vấn đề nghị luận: ý nghĩa của việc giữ gìn các kí ức chung của cộng đồng, dân tộc trong thời đại số.
a. Giải thích:
- Kí ức chung của cộng đồng, dân tộc là những trải nghiệm, giá trị và dấu ấn lịch sử được chia sẻ, lưu giữ và truyền lại qua nhiều thế hệ, tạo nên bản sắc và căn cước của một dân tộc.
- Giữ gìn những ký ức chung của cộng đồng, dân tộc là việc bảo tồn, trân trọng và tiếp nối những giá trị đã được hình thành, trải nghiệm và lưu truyền qua nhiều thế hệ, làm nên bản sắc dân tộc.
- Biểu hiện: Bảo tồn di tích lịch sử, lễ hội truyền thống, di sản văn hóa; học tập và tìm hiểu lịch sử dân tộc; tôn vinh các anh hùng, danh nhân văn hóa; truyền dạy giá trị truyền thống trong gia đình, nhà trường và xã hội.
b. Bàn luận: Ý nghĩa của việc giữ gìn những kí ức chung của cộng đồng, dân tộc.
* Cơ sở, bối cảnh thực tế thôi thúc giới trẻ cần giữ gìn các kí ức chung của cộng đồng, dân tộc.
- Sự bùng nổ nhanh chóng của công nghệ đã tạo ra một thế giới tiện ích. Các ứng dụng và phần mềm hỗ trợ đắc lực cho con người trong truyền thông tin, trao đổi, thậm chí cả lưu giữ một kho kí ức khổng lồ cho con người. Con người vì vậy ngày càng lệ thuộc vào công nghệ và tư duy cảm xúc như một cỗ máy.
- Ngoài ra, nhịp sống nhanh khiến con người sống vội, sống nhanh, thực dụng và dần quên đi những truyền thống đẹp đẽ, lãng quên tiếng nói từ sâu thẳm tâm hồn.
- Thế giới cũng ngày càng phẳng, hội nhập khiến con người ngày càng trộn lẫn vào ngôi nhà chung mà quên đi, làm mờ đi bản sắc riêng. Nhiều bạn trẻ rất giỏi kiếm sống nhưng lại quên mất gốc gác và thiếu định hướng trên con đường định hình lộ trình cuộc đời.
=> Tất cả những điều trên khiến chúng ta cần nhìn nhận nghiêm túc về ý nghĩa quan trọng của giữ gìn những kí ức chung của cộng đồng, dân tộc trong thời đại số.
* Ý nghĩa của giữ gìn kí ức chung của cộng đồng, dân tộc
- Với cá nhân:
+ Mỗi con người sẽ hiểu về nguồn cội, bản sắc và truyền thống tốt đẹp của dân tộc mình. Đó cũng là điểm tựa tâm lí vững vàng, nền tảng tinh thần vững chãi giúp bạn trẻ tự tin hội nhập.
+ Giữ gìn kí ức chung của cộng đồng góp phần bồi dưỡng và hình thành nhân cách tốt đẹp cho mỗi người như tinh thần đùm bọc, yêu thương, sẻ chia, tinh thần trách nhiệm, lòng tự hào dân tộc và lòng biết ơn…
+ Mỗi người sẽ lắng nghe và học hỏi được nhiều bài học quý báu được cộng đồng gìn giữ, tích lũy, kiểm chứng và sàng lọc; từ đó mỗi người làm giàu vốn sống, kinh nghiệm sống để thành công và khẳng định giá trị bản thân.
+ Giúp giữ gìn cội nguồn và bản sắc dân tộc để hòa nhập mà không hòa tan, không lạc đường trên hành trình tìm kiếm giá trị cốt lõi.
- Với cộng đồng
+ Kí ức chung là sợi dây liên kết các thế hệ, các vùng miền, giúp con người đồng cảm, sẻ chia, cùng hướng về những giá trị chung.
+ Tạo nền tảng cho lòng tự hào, tình yêu nước, sự gắn kết sâu rộng và tinh thần đoàn kết dân tộc.
+ Quá khứ là tấm gương để soi vào hiện tại. Từ ký ức chung, ta rút ra bài học, tránh lặp lại sai lầm và biết giữ gìn điều tốt đẹp; tạo nên nền tảng đạo đức và văn hóa cho các quyết định của Đất nước hôm nay. Từ đó, tạo động lực để đất nước, dân tộc phát triển bền vững trong hiện tại và tương lai.
(Dẫn chứng chứng minh)
c. Mở rộng, phản đề:
- Phê phán những biểu hiện:
+ Thờ ơ, lãng quên lịch sử, phủ nhận hoặc bóp méo quá khứ.
+ Chạy theo lối sống thực dụng, đánh mất bản sắc dân tộc.
- Giữ gìn kí ức chung của cộng đồng, dân tộc không đồng nghĩa với bảo thủ, cố chấp bảo tồn, giữ lại những giá trị đã lỗi thời, lạc hậu.
d. Bài học nhận thức và hành động:
- Kí ức chung của cộng đồng, dân tộc là những viên gạch đặt nền móng cho hành trình trưởng thành và phát triển của Đất nước. Vì vậy, mỗi bạn trẻ cần nhận thức đầy đủ, đúng đắn và sâu sắc ý nghĩa của giữ gìn những kí ức chung của cộng đồng, đặc biệt là những kí ức tốt đẹp.
- Mỗi bạn trẻ nên tìm hiểu một cách nghiêm túc và có trách nhiệm, xây dựng cho mình một lối sống cống hiến đúng đắn; mỗi người là ngọn đuốc để thắp lên tình yêu Đất nước; mỗi người là một sứ giả văn hóa, cầu nối giá trị truyền thống để giữ gìn và truyền lại những kí ức chung của dân tộc đến các thế hệ tương lai. Mỗi người cần tích cực lan tỏa những kí ức đẹp đẽ của cộng đồng đến bạn bè quốc tế; tận dụng sự tiện ích của công nghệ để mỗi kí ức đẹp là một “căn cước dân tộc” trên trường quốc tế.
3. Kết bài: Khẳng định được ý nghĩa của vấn đề nghị luận.





