Đề thi tham khảo học kì 2 Văn 12 - Đề số 2
I. ĐỌC HIỂU
Trở lại trái tim mình
(Bằng Việt)
Tôi trở lại những bờ đường mùa xuân
Cây già trắng lá
Ôi thành phố tôi yêu kỳ lạ
Cái sống như trăn trở ngày đêm
Tôi lớn lên, lo nghĩ nhiều thêm
Thành phố cũng như tôi đang lớn
Những gác xép bộn bề hi vọng
Những đầu hồi bóng nắng nhấp nhô…
Tôi trở về những ngõ quen xưa
Mỗi ngõ nhỏ giấu một lời tâm sự
Tôi trở lại những lối mòn quá khứ
Có tấm tình ta mắc nợ cha ông
(Nhịp chày sương hay tiếng trống thu không
Nét son đượm trên vòm cong mái cổ)
Tôi trở lại những lối mòn tình tự
Cánh bướm màu hạnh phúc cứ bay đôi
Tiếng ve ran những điệp khúc mùa vui...
...Ôi rất lâu rất lâu
Tôi mới lại đi một ngày thong thả
Thành phố như tim tôi êm ả
Sau rất nhiều gian lao.
(Trích Trở lại trái tim mình – Bằng Việt, Thơ tuyển 1961 – 2001, NXB Văn học, 2003, tr. 12)
Xác định chủ thể trữ tình trong văn bản.
- Xác định ngôi trữ tình được sử dụng trong bài thơ.
- Dựa vào đại từ xưng hô, cảm xúc, suy nghĩ và điểm nhìn của người nói để xác định chủ thể trữ tình.
Chủ thể trữ tình trong bài thơ là “tôi” - người đi xa lâu ngày nay trở lại thành phố quê hương
Liệt kê những hình ảnh gắn với điệp ngữ “tôi trở lại” và “tôi trở về”.
- Nhận diện các điệp ngữ trong văn bản.
- Tìm những hình ảnh, không gian được đặt ngay sau hoặc gắn trực tiếp với các điệp ngữ đó.
Những hình ảnh gắn với điệp ngữ “tôi trở lại” và “tôi trở về”: những bờ đường mùa xuân, những ngõ quen xưa, những lối mòn quá khứ, những lối mòn tình tự.
Diễn biến tâm trạng của chủ thể trữ tình trong văn bản được bộc lộ như thế nào?
- Theo dõi trình tự cảm xúc của chủ thể trữ tình từ đầu đến cuối bài thơ.
- Chú ý các từ ngữ, hình ảnh, âm thanh và những suy tưởng đi kèm.
- Khái quát thành các chặng tâm trạng, tránh kể lại nội dung.
- Diễn biến tâm trạng của chủ thể trữ tình trong bài thơ bắt đầu từ niềm hạnh phúc được trở thành phố với những gác xép những đầu hồi bình dị;
- Những suy tư về mối quan hệ giữa thành phố với ân tình của cha ông;
- Những kỉ niệm của thời thanh xuân (gắn với cánh bướm, tiếng ve) và kết thúc là sự thanh thản, nhẹ lòng vì được thành phố bao bọc sau những gian lao.
Nêu tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong hai câu thơ sau:
Những gác xép bộn bề hi vọng
Những đầu hồi bóng nắng nhấp nhô…
- Vận dụng kiến thức về biện pháp tu từ liệt kê
- Phân tích ít nhất 2 tác dụng đối việc với đoạn thơ
Tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong hai câu thơ:
- Tạo sự sinh động, hấp dẫn cho câu văn;
- Cụ thể hóa những hình ảnh vốn giản dị như gác xép, đầu hồi mà lại thân thương với nhân vật trữ tình lâu ngày được trở lại thành phố quê hương.
- Thể hiện tình yêu, sự gắn bó và niềm xúc động của chủ thể trữ tình trước những cảnh vật tưởng như nhỏ bé nhưng đã trở thành một phần kí ức sâu đậm.
Văn bản miêu tả tâm trạng của người đi xa lâu ngày được trở lại thành phố quê hương, tuy nhiên, nhan đề của bài thơ lại là Trở lại trái tim mình. Anh/ chị có nhận xét gì về mối quan hệ giữa nhan đề và nội dung bài thơ.
- Phân tích ý nghĩa trực tiếp và ý nghĩa hàm ẩn của nhan đề.
- Đối chiếu nhan đề với hình ảnh, cảm xúc và tư tưởng xuyên suốt bài thơ.
- Chỉ ra mối quan hệ giữa “trở lại thành phố” và “trở lại trái tim mình”.
Nhận xét về mối quan hệ giữa nhan đề và nội dung bài thơ:
- Bài thơ viết về tâm trạng của người đi xa lâu ngày khi trở lại thành phố quê hương. Thành phố hiện lên với những cảnh vật thân thuộc, gắn với những kỉ niệm sâu sắc của chủ thể trữ tình.
- Nhan đề “Trở lại trái tim mình” cho thấy thành phố không chỉ là một không gian địa lí mà đã trở thành một phần trái tim, tâm hồn của người trở về, nơi lưu giữ những kí ức và tình cảm sâu nặng.
- Vì vậy, trở lại thành phố cũng chính là trở lại với những gì thân thuộc nhất, trở lại với kí ức tuổi thơ, với những giá trị đã làm nên đời sống tinh thần của mình. Điều này được gợi rõ qua câu thơ: “Thành phố như tim tôi êm ả”.
=> Nhan đề có ý nghĩa khái quát, làm nổi bật sự gắn bó sâu sắc giữa thành phố quê hương với trái tim, tâm hồn của chủ thể trữ tình.
II. VIẾT
Nhà văn Côlombia Gabriel Garcia Marquez từng viết: Không phải người ta ngừng theo đuổi ước mơ vì họ già đi mà họ già đi vì ngừng theo đuổi giấc mơ.
Anh/ chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về vấn đề trên.
- Xác định đúng vấn đề nghị luận
- Vận dụng thao tác lập luận giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, bác bỏ và rút ra bài học nhận thức, hành động.
- Kết hợp lí lẽ với dẫn chứng để làm sáng tỏ vấn đề.
- Bố cục bài viết đảm bảo ba phần: Mở bài, Thân bài, Kết bài.
1. Mở bài
Giới thiệu được vấn đề nghị luận và và nêu khái quát quan điểm cá nhân về vấn đề.
2. Thân bài
2.1. Giải thích
- Ước mơ: là những dự định, khát khao mà mỗi chúng ta mong muốn đạt được trong thời gian ngắn hoặc dài; là động lực để mỗi chúng ta vạch ra phương hướng đường đi để dẫn tới ước mơ.
- theo đuổi giấc mơ: là nỗ lực, phấn đấu vượt qua mọi khó khăn, thử thách, bỏ sức lực, trí tuệ để có thể biến ước mơ thành hiện thực.
2.2. Biểu hiện và ý nghĩa của việc theo đuổi ước mơ trong đời sống mỗi người
- Ước mơ có vai trò quan trọng với mỗi người, giúp chúng ta sống cuộc đời có ý nghĩa, cống hiến cho xã hội.
+ Người có ước mơ sẽ biết mình muốn gì, từ đó xác định mục tiêu và phương hướng hành động.
+ Ước mơ giúp con người không sống tùy tiện, thụ động mà biết chủ động xây dựng tương lai.
+ Đặc biệt với người trẻ, có ước mơ giúp mỗi người sống có mục đích, có động lực và có trách nhiệm hơn với cuộc đời mình.
- Theo đuổi ước mơ giúp con người rèn luyện bản lĩnh và phát triển bản thân
+ Con đường thực hiện ước mơ không bao giờ hoàn toàn bằng phẳng.
+ Khó khăn, thất bại buộc con người phải học hỏi, kiên trì, điều chỉnh và vượt qua giới hạn của bản thân.
+ Vì vậy, quá trình theo đuổi ước mơ cũng là quá trình trưởng thành.
+ Thành công có thể là kết quả cuối cùng, nhưng những phẩm chất được hình thành trên hành trình ấy cũng là một giá trị lớn.
- Theo đuổi ước mơ giúp con người tạo ra giá trị cho bản thân và xã hội
+ Khi biến ước mơ thành hành động, con người có cơ hội khẳng định năng lực, tạo dựng giá trị và đóng góp cho cộng đồng.
+ Những ước mơ đẹp không chỉ hướng tới lợi ích cá nhân mà còn có thể tạo ra những giá trị tích cực cho xã hội.
+ Vì vậy, theo đuổi ước mơ là một cách để con người sống có ý nghĩa và cống hiến.
- Nếu từ bỏ ước mơ, con người dễ rơi vào trạng thái sống thụ động, vô nghĩa
+ Không có ước mơ hoặc từ bỏ ước mơ khiến con người: Không xác định được hướng đi, dễ bằng lòng với thực tại; thiếu động lực học tập, làm việc và hoàn thiện bản thân; có thể bỏ lỡ cơ hội phát triển và trở thành người tụt hậu.
+ Khi ấy, dù tuổi đời còn trẻ, con người vẫn có thể “già đi” trong tâm hồn.
Lựa chọn và sử dụng dẫn chứng phù hợp
2.3. Biết mở rộng, nâng cao vấn đề
- Phê phán một số bạn trẻ sống không có ước mơ, không hiểu mình muốn gì và không có ý chí phấn đấu, sống buông bỏ đời mình theo số phận muốn tới đâu thì tới, sống ỷ lại, thụ động, phụ thuộc vào gia đình.
- Một bộ phận khác thì theo đuổi những ước mơ quá xa vời, thiếu thực tế, hoặc sống bằng lòng với thực tại, ngại khó, ngại khổ, không dám theo đuổi ước mơ.
2.4 Bài học nhận thức và hành động
Về nhận thức
- Nhận thức được ước mơ là một phần quan trọng của đời sống tinh thần.
- Hiểu rằng tuổi trẻ cần có khát vọng, nhưng khát vọng phải gắn với thực tế và những giá trị tốt đẹp.
Về hành động
- Chủ động khám phá năng lực, sở thích và xác định mục tiêu.
- Chia ước mơ thành những mục tiêu cụ thể, khả thi.
- Lập kế hoạch và kiên trì thực hiện.
- Không sợ thất bại; biết rút kinh nghiệm và điều chỉnh cách làm.
- Không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao năng lực.
3. Kết bài: Khẳng định quan điểm cá nhân đã trình bày và rút ra bài học cho bản thân.
Từ việc đọc hiểu ở văn bản trên, anh/chị hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích hình ảnh thành phố quê hương trong bài thơ Trở lại trái tim mình của Bằng Việt.
- Xác định đúng đối tượng nghị luận: hình ảnh thành phố quê hương.
- Khái quát hình tượng.
- Phân tích các chi tiết, hình ảnh, âm thanh tiêu biểu.
- Nhận xét nghệ thuật xây dựng hình tượng.
- Đánh giá ý nghĩa và tình cảm của tác giả.
* Nêu khái quát hình tượng thành phố quê hương
- Hình tượng thành phố quê hương hiện lên qua những hình ảnh, âm thanh bình dị, thân thuộc dưới góc nhìn của người đi xa lâu ngày trở về.
- Thành phố không chỉ được cảm nhận bằng thị giác mà còn được đánh thức qua những âm thanh và những kỉ niệm gắn bó với chủ thể trữ tình.
* Phân tích những biểu hiện cụ thể của hình tượng thành phố quê hương
- Không gian, cảnh vật: “Những bờ đường mùa xuân”; “những gác xép”, “những đầu hồi”; “những ngõ nhỏ”, “những lối mòn quá khứ”, “những lối mòn tình tự”. → Thành phố hiện lên gần gũi, bình dị, thân thuộc, đồng thời mang vẻ đẹp cổ kính, giàu chiều sâu văn hóa.
- Âm thanh: “nhịp chày sương”, “tiếng trống thu không”, “tiếng ve ran” làm sống dậy không gian quê hương và những miền kí ức đã xa.
- Thành phố còn gắn với lịch sử, truyền thống và ân tình của cha ông qua hình ảnh “nét son đượm trên vòm cong mái cổ”, “tấm tình ta mắc nợ cha ông”.
- Thành phố gắn với kí ức tuổi thơ, tuổi trẻ và tình yêu của chủ thể trữ tình qua “cánh bướm màu hạnh phúc”, “tiếng ve ran”.
Nhận xét: Các hình ảnh vừa có giá trị tả thực, vừa mang ý nghĩa biểu tượng, bởi đằng sau cảnh vật là những kỉ niệm, tình cảm và dấu ấn sâu đậm trong tâm hồn người trở về. Đặc biệt, điệp ngữ “tôi trở lại”, “tôi trở về” nhấn mạnh sự gắn bó và nỗi xúc động của chủ thể trữ tình khi trở về thành phố thân yêu.
* Đánh giá ý nghĩa của hình tượng thành phố quê hương
- Qua hình tượng thành phố, tác giả bộc lộ tình yêu tha thiết, sâu nặng với quê hương.
- Thể hiện sự trân trọng, nâng niu những kỉ niệm tuổi thơ, tuổi trẻ và những giá trị văn hóa, truyền thống của quê hương.
- Thành phố không chỉ là một không gian địa lí mà đã trở thành một phần trái tim, tâm hồn của người trở về, đem lại cảm giác bình yên, êm ả sau những gian lao.





