Đề thi tham khảo giữa học kì 2 Văn 12 - Đề số 4
I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản:
TẤT CẢ CHO ĐIỆN BIÊN PHỦ
(Xuân Phượng)
Từ năm 1953, tình hình thay đổi rõ rệt. Những xưởng in bắt đầu ra khỏi hang, làm việc cật lực đêm ngày. Truyền đơn, áp phích, báo chí đua nhau xuất hiện khắp nơi. Chúng tôi cũng ra khỏi rừng và sống với dân. Dọc đường đến nhà in, tôi thấy nhiều người bắt đầu sửa lại những căn nhà bị bom bắn phá. Tại cơ quan, ở giữa phòng có treo một bản đồ, gắn chi chít những lá cờ đỏ sao vàng ở những vùng quân ta thắng trận. Tờ Công Tác Thóc Gạo tăng thêm số trang. Các bạn trong tòa soạn và tôi hầu như liên tục đi trên đường. Lần này đi giữa ban ngày, chúng tôi náo nức chào những đoàn dân công dắt xe đạp thồ gạo, thồ vũ khí cho mặt trận. Vẫy tay chào nhau, hò hát, chúc tụng, cười đùa vang khắp khu rừng. Các kho thóc nhộn nhịp hẳn lên. Có chị vừa thồ 50 kí gạo đến, mặt hồng lên, mắt long lanh, vừa phẩy nón, quạt lấy quạt để “Em đi một mạch hai chục cây số liền mà không nghỉ đấy chị ạ”. Chưa dứt lời đã thấy sáu bảy cô khác đẩy xe đến, những gùi gạo buộc chằng chịt bằng dây cao su đen.
Những con đường ngoằn ngoèo đào nham nhở đã được san lấp. Một chiếc xe tải vượt lên. Chiếc xe đầu tiên tôi thấy sau những năm ở rừng. Xe chạy qua, xăng tỏa ra một mùi thơm đặc biệt. Tôi tựa vào gốc cây, tay giữ chiếc xe đạp và hít lấy hít để hơi xăng.
Đầu năm 1954, anh Hoàng nghỉ phép được hơn một tuần trước khi chuẩn bị vào một trận chiến đặc biệt quan trọng. Vừa tự hào vừa lo lắng cho người sắp ra mặt trận, hai mẹ con tôi nhìn theo chiếc xe command-car đưa anh và hai cần vụ trở về Sư đoàn 351.
Từ nay, vì “Tất cả cho Điện Biên Phủ”, mỗi tháng chúng tôi chỉ nhận 8 kilô gạo thay cho 13 kilô trước kia.
Sau này, anh Hoàng kể lại tường tận về cuộc chiến đấu ác liệt này. Anh đã tặng cho tôi một nắm đất của đồi A1, đất màu đen lổn nhổn những mảnh đạn màu xám chì. Bọc đất gói giấy đỏ có chữ màu đen “Đồi A1” luôn được đặt vào vị trí trân trọng nhất trong nhà chúng tôi.
Ngày mùng 8 tháng 5 năm 1954, tôi đang làm việc với hai công nhân in, bỗng tiếng loa vang lên: “Quân ta chiến thắng rồi! Hôm qua chúng ta đã chiến thắng ở Điện Biên Phủ!”. Mọi người chạy ùa ra đường. Vài anh dân công đang thồ gạo bỗng vứt cả sọt và đòn gánh, quay xe tức tốc đạp ngược lại. Trên một cung đường nhỏ, chúng tôi nhặt được mấy chục gánh gạo và ba chiếc xe đạp thồ. Tiếng reo hò không biết từ đâu vẳng lại. Tiếng hát vang lên. Tiếng cười và tiếng khóc xen nhau.
Tôi gấp rút hoàn thành tờ báo với dòng chữ được in to, đậm, ngay trang đầu: “Chiến thắng Điện Biên Phủ muôn năm! Quân đội Nhân dân Việt Nam anh hùng muôn năm!”. Báo được ra hai số đặc biệt.
(Gánh gánh... gồng gồng... - Xuân Phượng, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2024, tr.87-89)
Chỉ ra sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc được nhắc đến trong văn bản.
Xác định sự kiện trung tâm được nhắc đến trực tiếp hoặc gián tiếp trong văn bản; chú ý các mốc thời gian, địa danh, kết quả của sự kiện.
Sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc được nhắc đến trong văn bản: Chiến thắng Điện Biên Phủ.
Liệt kê những chi tiết trong văn bản thể hiện tính xác thực của thể loại hồi kí.
- Vận dụng kiến thức về đặc trưng của thể loại hồi kí: người viết là người trực tiếp chứng kiến/tham gia hoặc có liên hệ với sự kiện; sự việc, nhân vật, thời gian, địa điểm được ghi lại cụ thể; có những chi tiết chân thực, giàu tính tư liệu và dấu ấn cá nhân.
Những chi tiết trong văn bản thể hiện tính xác thực của thể loại hồi kí:
- Xác thực về sự kiện: Sự kiện chiến thắng Điện Biên Phủ.
- Xác thực về nhân vật: Nhân vật “tôi” cũng chính là tác giả, là người công tác tại tòa soạn báo Công Tác Thóc Gạo; nhân vật Hoàng là chồng của nhân vật “tôi”. Đây đều là những người thật, việc thật.
- Xác thực về thời gian: tác giả liệt kê cụ thể các mốc thời gian ứng với những sự kiện đi kèm: từ năm 1953, từ đầu năm 1954, ngày 8 tháng 5 năm 1954
Nêu thái độ, tình cảm của tác giả được thể hiện qua đoạn văn:
Sau này, anh Hoàng kể lại tường tận về cuộc chiến đấu ác liệt này. Anh đã tặng cho tôi một nắm đất của đồi A1, đất màu đen lổn nhổn những mảnh đạn màu xám chì. Bọc đất gói giấy đỏ có chữ màu đen “Đồi A1” luôn được đặt vào vị trí trân trọng nhất trong nhà chúng tôi.
- Đọc kĩ chi tiết được lựa chọn
- Chú ý hình ảnh, từ ngữ biểu cảm và mối quan hệ giữa chi tiết với sự kiện lịch sử để xác định thái độ, tình cảm của người viết.
Qua đoạn văn, tác giả thể hiện:
- Xúc động, bồi hồi trước những dấu tích còn lại của cuộc chiến đấu ác liệt ở Điện Biên Phủ, được gợi lên qua hình ảnh “nắm đất của đồi A1” và “những mảnh đạn màu xám chì”.
- Trân trọng, biết ơn những người chiến sĩ đã chiến đấu, hi sinh vì độc lập, tự do của dân tộc.
- Tự hào về chiến thắng Điện Biên Phủ: Chi tiết bọc nắm đất và đặt ở “vị trí trân trọng nhất” còn cho thấy sự gìn giữ, nâng niu kí ức lịch sử, coi đó là một phần thiêng liêng của đời sống tinh thần.
Nêu tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê được sử dụng trong những câu văn sau:
Ngày mùng 8 tháng 5 năm 1954, tôi đang làm việc với hai công nhân in, bỗng tiếng loa vang lên: “Quân ta chiến thắng rồi! Hôm qua chúng ta đã chiến thắng ở Điện Biên Phủ!”. Mọi người chạy ùa ra đường. Vài anh dân công đang thồ gạo bỗng vứt cả sọt và đòn gánh, quay xe tức tốc đạp ngược lại. Trên một cung đường nhỏ chúng tôi nhặt được mấy chục gánh gạo và ba chiếc xe đạp thô. Tiếng reo hò không biết từ đâu vắng lại. Tiếng hát vang lên. Tiếng cười và tiếng khóc xen nhau.
- Vận dụng kiến thức về biện pháp tu từ liệt kê
- Gọi tên, chỉ ra biểu hiện và phân tích tác dụng
- Biện pháp liệt kê được thể hiện qua hàng loạt hình ảnh, âm thanh: “sọt và đòn gánh”, “mấy chục gánh gạo và ba chiếc xe đạp thồ”, “tiếng reo hò”, “tiếng hát”, “tiếng cười và tiếng khóc”...
- Tác dụng:
+ Tạo nhịp văn nhanh, dồn dập; tái hiện sinh động không khí náo nức, sôi động của con người khi đón tin chiến thắng.
+ Khắc họa niềm vui vỡ òa, lan tỏa của quân và dân trước chiến thắng Điện Biên Phủ; cho thấy sự gắn bó, đồng lòng của nhân dân với cuộc kháng chiến.
+ Thể hiện niềm vui sướng, tự hào, xúc động của tác giả trước thời khắc lịch sử trọng đại
Từ sự kiện lịch sử của dân tộc trong văn bản, anh/ chị hãy rút ra một bài học về lẽ sống cho bản thân và thế hệ trẻ hôm nay.(Trả lời khoảng 5-7 dòng)
Từ nội dung trong văn bản kết hợp liên hệ bản thân, rút ra một bài học về lẽ sống phù hợp
Gợi ý: Bài học về lẽ sống cho bản thân và thế hệ trẻ hôm nay:
- Trước khó khăn, thử thách cần giữ vững ý chí, không dễ dàng bỏ cuộc; biết biến gian nan thành động lực để vươn lên.
- Cần ý thức trách nhiệm của mình đối với quê hương, đất nước; biết đặt lợi ích chung bên cạnh lợi ích cá nhân.
- Trân trọng, biết ơn những người đã hi sinh để đem lại độc lập, hòa bình và cuộc sống tốt đẹp hôm nay.
- Mỗi người trẻ có thể cống hiến bằng việc học tập tốt, làm việc nghiêm túc, sống tử tế và có ích.
- Tiếp nối những phẩm chất tốt đẹp của cha ông bằng học tập, rèn luyện và cống hiến, để không phụ công lao của thế hệ trước.
II. VIẾT
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nhận của anh chị về một chi tiết trong văn bản Tất cả cho Điện Biên Phủ ở phần Đọc hiểu khiến bản thân xúc động nhất.
- Vận dụng kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học khoảng 200 chữ
- Phân tích tập trung vào hai phương diện chính: bức tranh thiên nhiên và tâm trạng nhân vật trữ tình, đồng thời chỉ ra sự kết hợp giữa chất cổ điển và tinh thần hiện đại.
1. Mở đoạn
- Giới thiệu văn bản Tất cả cho Điện Biên Phủ và chi tiết mà bản thân ấn tượng/xúc động nhất.
- Nêu khái quát cảm xúc về chi tiết đó.
2. Thân đoạn
a. Nêu và phân tích chi tiết
- Chỉ ra chi tiết cụ thể.
- Phân tích những hình ảnh, từ ngữ nổi bật tạo nên chi tiết.
b. Cảm nhận ý nghĩa của chi tiết
- Chi tiết giúp tái hiện/khắc họa điều gì?
- Chi tiết gợi ra:
+ sự khốc liệt, gian khổ của chiến tranh;
+ sự hi sinh, cống hiến của thế hệ cha anh;
+ không khí, ý nghĩa của chiến thắng Điện Biên Phủ;
+ vẻ đẹp của con người Việt Nam trong kháng chiến.
- Từ chi tiết, làm nổi bật chủ đề/tư tưởng của văn bản.
c. Đánh giá nghệ thuật
- Chi tiết chân thực, giàu sức gợi.
- Có giá trị biểu tượng hoặc tạo điểm nhấn cảm xúc.
- Góp phần thể hiện dấu ấn hồi kí và cái nhìn, tình cảm của tác giả.
d. Liên hệ, mở rộng cảm xúc
- Chi tiết khiến bản thân suy nghĩ/cảm nhận gì?
- Gợi nhắc trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay: biết ơn quá khứ, trân trọng hòa bình, sống có trách nhiệm...
3. Kết đoạn
- Khẳng định lại giá trị và sức lay động của chi tiết.
- Nêu ấn tượng hoặc bài học sâu sắc nhất đối với bản thân
Trong mối quan hệ bạn bè, không thể tránh khỏi có lúc xảy mâu thuẫn. Anh/Chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về cách ứng xử khi xảy ra mâu thuẫn với bạn bè của giới trẻ hiện nay.
- Vận dụng kĩ năng viết bài văn nghị luận xã hội
- Kết hợp các thao tác giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, bác bỏ và rút ra bài học nhận thức, hành động.
- Đảm bảo bố cục: Mở - Thân - Kết
1. Mở bài
Giới thiệu được vấn đề nghị luận: cách ứng xử khi xảy ra mâu thuẫn với bạn bè của giới trẻ hiện nay
2. Thân bài
2.1 Giải thích:
- Mâu thuẫn với bạn bè: sự bất đồng về suy nghĩ, lời nói, hành động, lợi ích hoặc cách ứng xử giữa những người bạn.
- Ứng xử khi có mâu thuẫn: cách mỗi người kiểm soát cảm xúc, giao tiếp, lắng nghe và tìm giải pháp để giải quyết bất đồng một cách phù hợp.
2.2 Bàn luận, phân tích:
* Tác động tiêu cực:
+ Làm rạn nứt tình bạn, gây cảm giác xa lánh và cô lập, khiến mối quan hệ dần đổ vỡ.
+ Những mâu thuẫn kéo dài sẽ tạo ra tâm lí căng thẳng, khiến người trong cuộc dễ rơi vào trạng thái lo âu, mất tập trung và thậm chí là trầm cảm, từ đó ảnh hưởng xấu đến kết quả học tập và cuộc sống.
+ Suy giảm tinh thần đoàn kết trong nhóm, kéo theo nhiều người khác, tạo nên bầu không khí căng thẳng trong lớp học.
* Đề xuất giải pháp phù hợp để thực hiện giải quyết vấn đề:
+ Cần học cách kiểm soát cảm xúc và giao tiếp.
+ Tự nhận trách nhiệm khi xảy ra xung đột là rất cần thiết.
+ Cần học cách lắng nghe quan điểm của người khác thay vì chỉ tập trung vào việc bảo vệ ý kiến của mình.
+ Nhà trường cần tạo điều kiện cho các hoạt động ngoại khóa tập trung vào việc phát triển tinh thần hợp tác và xây dựng tình bạn.
+ Mỗi gia đình cần nhìn nhận lại cách giáo dục con trẻ, cần quan tâm tìm hiểu xem con nghĩ gì, cần gì, xử sự như thế nào với bạn bè; cha mẹ hãy là bạn đồng hành với con cái, không
nên tạo cho con cái một vỏ bọc quá cứng từ đó sẽ gây tâm lí ỷ lại, dựa dẫm, hưởng thụ.
2.3 Mở rộng vấn đề, trao đổi với các ý kiến trái chiều về vấn đề:
+ Hiểu được mâu thuẫn giữa bạn bè, chấp nhận nó như một quy luật không đồng nghĩa với việc cổ súy cho cái sai, trạng thái bồng bột, thiếu suy nghĩ, thích nổi loạn của một số bạn trẻ ảo tưởng viển vông không phù hợp với khả năng.
+ Có ý kiến cho rằng: “Mạng xã hội là nơi để giới trẻ có thể giải quyết mâu thuẫn bạn bè một cách triệt để” bởi hiện nay mạng xã hội là phương tiện liên lạc của giới trẻ khá phổ biến
3. Kết bài: Khẳng định lại vấn đề nghị luận và đưa ra thông điệp





