Đề thi tham khảo giữa học kì 2 Văn 12 - Đề số 2
I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau:
Một ngày tháng Năm năm 1967.
Sau hai ngày đêm vượt phà, vượt những con đường lổn nhổn hố bom cày nát, mò mẫm đi trong đêm với ánh sáng leo lắt của một ngọn đèn nhỏ gắn ở gầm xe, chúng tôi từ Hà Nội đã đến địa phận tỉnh Thanh Hóa.
Cả ba chiếc xe Jeep, lá nguy trang phủ đầy, được cất giấu trong một con hào nửa chìm nửa nổi. Mười một anh em trong đoàn chia nhau mấy tấm phên tre đặt dưới hào, sát bên cạnh là những chiếc hầm sâu hơn để tránh bom. Đang mệt nhoài và ngủ mê mệt, bỗng những tiếng nổ chát chúa bên tai, những tia chớp xanh lét làm tôi bừng tỉnh dậy. Quay phim Đào Lê Bình hét lên: "Bom bi, bom bi!". Chỉ kịp với tay giật chiếc túi cấp cứu, tôi nhảy vội xuống hầm. Ông bà I-ven đã ngồi nép vào một góc hầm, ba anh bảo vệ ngồi xung quanh. Mỗi phút trôi qua, bom bi càng nổ chát chúa, những tia chớp xanh lạnh, chói lòa cả căn hầm. Bình hét lên: "Tôi bị thương rồi". Tôi đưa tay chạm vào cổ anh. Một dòng nước ấm nhơn nhớt chảy nhầy nhụa.
Tôi cầm vội con dao mổ nhỏ, sờ soạng vào cổ Bình và cảm nhận được một vật tròn tròn dưới làn da cổ. Một tia chớp, một bom bi lại nổ. Ông I-ven hét lên: "Phượng, hãy bình tĩnh! Săn sóc gấp cho Bình".
Tôi cầm con dao mổ, một tay bóp mạnh để gắng cố định viên bi đang nằm dưới làn da, tay kia khía mạnh. Viên bi tròn còn nóng máu người đã rơi thỏm xuống lòng bàn tay tôi. Máu ngừng chảy, vết thương được dán kín.
Cuộc thả bom chớp nhoáng đột ngột dừng. Không gian trở lại yên tĩnh một cách khác thường.
Trời mờ sáng. Ba chiếc xe Jeep bị bom phá tan hoang, két nước thủng lỗ chỗ, nệm ngồi văng tứ tung. Phi Hùng, người phụ trách an toàn của đoàn, gọi điện về Hà Nội xin chỉ thị. Như đoán biết trước, ông I-ven đi men theo vách hầm đến đưa cho tôi một mảnh giấy: "Chưa đi được một phần mười của hành trình. Chúng tôi quyêt định vẫn đi tiếp vào Vĩnh Linh. Chúng tôi không trở về đâu. Kí tên Giô-rít và Mác-xơ-lin". Chiều hôm ấy, lệnh hỏa tốc từ Hà Nội vào: "Bổ sung cho ba xe khác. Đoàn tiếp tục lên đường. Gắng bảo vệ tính mạng cho khách".
Và cứ thế, khi mặt trời lên, cả đoàn tìm vào các hầm trú ẩn của địa phương, hoặc chui vào các hốc đá, các hang đá nghỉ ngơi. Đôi khi vất vưởng ngồi dưới những hàng cây chạy dài ven suối. Chờ lúc chạng vạng tối lại lên xe, vượt bom, vượt pháo sáng, qua cầu phao, qua các đèo nham nhở đất đá tung toé. Khó chịu đựng nhất, gây căng thăng nhất và đáng sợ nhất là những đợt ánh sáng xanh ma quái khét lẹt kết hợp với tiếng gầm rú điên cuồng của đủ loại máy bay Mỹ chằng chịt xuyên qua bầu trời.
Đêm ấy, sau khi vượt an toàn qua hai phà, chiếc xe của Ngọc với ông bà I-ven, Phi Hùng, Bình và tôi, đang nghiêng ngả chạy như say rượu trên con đường chằng chịt hố bom, dưới ánh sáng xanh ma quái của pháo sáng. Tôi lim dim ngủ. Một tiếng động chát tai. Xe Ngọc chạm phải phía sau một xe vận tải. Chiếc xe Jeep nhảy chồm lên, những mảnh kính vỡ vụn bắn vào mặt tôi, máu chảy ròng ròng. Tôi nhảy vụt ra khỏi xe. Tiếng Mác-xơ-lin thét lên: "Ôi cái chân tôi!". Trong bóng tối, hàng chục cánh tay của các em thanh niên xung phong đang lấp hố bom gần đấy dìu chúng tôi vào một hố to khoét sâu bên thành vách đất. Những mảnh kính vỡ vụn được từ từ rút ra khỏi mặt tôi. Tôi mở mắt và thấy Mác-xơ-lin đang nép vào Giô-rít, chân phải đã được băng lại, cứng đờ. Đến một trạm quân y nằm khá xa tuyến lửa ở Hà Tĩnh, bác sĩ khám cho hai chúng tôi. Tôi được rửa sạch những vết thương trên mặt. Kì diệu thay tuổi trẻ, máu đã ngừng chảy. Vẫn còn bỏng rát, nhưng tôi đã có thể sẵn sàng lên đường. Riêng Mác-xơ-lin thì nghiêm trọng hơn, vết thương đầu gối khá nặng, phải nhập viện. Trạm quân y dã chiến này nằm cách đường khoảng hai mươi cây số, lẩn khuất trong những lùm tre. Ông I-ven quyết định ngay: "Để Mác-xơ-lin nằm điều trị tại đây. Tất cả đoàn chúng ta tối nay lên đường". Lúc ấy, nhà quay phim Thái Dũng đang bị thương và cũng đang nằm điều trị tại trạm quân y này. Tôi nhờ Thái Dũng trông nom giúp bà Mác-xơ-lin, rồi cả đoàn vội vã lên đường.
(Xuân Phượng, Gánh gánh...gồng gồng..., NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2022, tr 141,146)
Nêu hiệu quả của việc sử dụng ngôi kể trong văn bản trên.
- Vận dụng kiến thức về đặc trưng thể loại hồi kí.
- Xác định ngôi kể và phân tích tác dụng của ngôi kể thứ nhất
- Văn bản được kể theo ngôi thứ nhất
- Tác dụng:
+ Tăng tính chân thực, xác thực cho câu chuyện; tạo sự gần gũi, tin cậy với người đọc.
+ Giúp tái hiện những sự kiện, cảm xúc, suy nghĩ một cách trực tiếp, sinh động.
+ Làm nổi bật những trải nghiệm, kí ức sâu sắc của tác giả về chiến tranh, qua đó tăng sức truyền cảm cho đoạn hồi kí.
Liệt kê các sự kiện được trình bày trong đoạn trích, qua các sự kiện đó, anh/chị hình dung như thế nào về bối cảnh lịch sử của thời đại?
- Xác định các sự kiện chính theo trình tự diễn biến.
- Khái quát bối cảnh lịch sử được phản ánh.
- Các sự kiện chính:
+ Đoàn công tác vượt tuyến lửa vào chiến trường.
+ Đoàn bị máy bay Mỹ ném bom, nhiều người và phương tiện bị hư hại; người kể cứu chữa đồng đội.
+ Đoàn quyết định tiếp tục hành trình dù gặp nhiều hiểm nguy.
+ Xe Jeep gặp tai nạn, một số thành viên bị thương và được thanh niên xung phong, quân y cứu giúp.
+ Mác-xơ-lin ở lại điều trị, đoàn tiếp tục lên đường thực hiện nhiệm vụ.
- Bối cảnh lịch sử:
+ Cuộc kháng chiến chống Mỹ đang diễn ra vô cùng ác liệt.
+ Miền Bắc vừa chiến đấu vừa chi viện cho miền Nam.
+ Bom đạn Mỹ đánh phá dữ dội trên các tuyến giao thông.
+ Con người phải đối mặt với hiểm nguy thường trực nhưng vẫn kiên cường thực hiện nhiệm vụ.
Phân tích tác dụng của sự kết hợp giữa yếu tố miêu tả, tự sự và biểu cảm trong đoạn trích.
- Vận dụng kiến thức về các phương thức biểu đạt.
- Chỉ ra biểu hiện của tự sự, miêu tả, biểu cảm và phân tích hiệu quả của sự kết hợp các yếu tố đó.
- Đoạn trích kết hợp hài hòa giữa tự sự, miêu tả và biểu cảm:
+ Yếu tố tự sự: Kể lại chân thực hành trình của đoàn công tác vượt tuyến lửa, những lần bị bom đạn tấn công, tai nạn trên đường và việc tiếp tục thực hiện nhiệm vụ.
+ Yếu tố miêu tả: Khắc họa sinh động khung cảnh chiến trường và những chi tiết cụ thể như tiếng bom nổ, ánh sáng xanh của bom bi, những chiếc xe bị phá hỏng, vết thương của các nhân vật,...
+ Yếu tố biểu cảm: Bộc lộ nỗi lo lắng, căng thẳng, đau xót trước mất mát, đồng thời thể hiện sự cảm phục đối với ý chí, tinh thần dũng cảm, trách nhiệm của những con người trong chiến tranh.
- Hiệu quả của sự kết hợp:
+ Làm cho câu chuyện vừa chân thực, sinh động, vừa giàu cảm xúc.
+ Tái hiện rõ nét hiện thực khốc liệt của chiến tranh.
+ Làm nổi bật vẻ đẹp của những con người giàu lòng dũng cảm, trách nhiệm, đoàn kết và sẵn sàng hi sinh vì nhiệm vụ.
Phân tích hiệu quả của 01 biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn trích sau:
Và cứ thế, khi mặt trời lên, cả đoàn tìm vào các hầm trú ẩn của địa phương, hoặc chui vào các hốc đá, các hang đá nghỉ ngơi. Đôi khi vất vưởng ngồi dưới những hàng cây chạy dài ven suối. Chờ lúc chạng vạng tối lại lên xe, vượt bom, vượt pháo sáng, qua cầu phao, qua các đèo nham nhở đất đá tung toé.
- Xác định đúng biện pháp tu từ.
- Chỉ ra tác dụng đối với nội dung và nghệ thuật.
- Biện pháp tu từ: Liệt kê “vượt bom, vượt pháo sáng, qua cầu phao, qua các đèo…”
- Tác dụng:
+ Khắc họa cụ thể hành trình liên tục, gian nan, đầy hiểm nguy.
+ Nhấn mạnh sự khốc liệt của chiến tranh và những khó khăn mà đoàn công tác phải vượt qua.
+ Làm nổi bật ý chí bền bỉ, kiên cường của những con người trên tuyến lửa.
Qua đoạn trích, anh/chị cảm nhận được gì về tinh thần và phẩm chất của những con người trong hoàn cảnh chiến tranh?
- Rút ra những phẩm chất từ hành động, lời nói của các nhân vật.
- Khái quát thành nhận xét.
Gợi ý: Qua đoạn trích có thể cảm nhận:
- Lòng dũng cảm, không khuất phục trước bom đạn.
- Ý chí kiên cường, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ.
- Tinh thần trách nhiệm cao.
- Tình đồng đội, đồng chí gắn bó.
- Tinh thần đoàn kết giữa nhân dân Việt Nam với bạn bè quốc tế.
- Đức hi sinh, sẵn sàng vượt lên đau thương vì nhiệm vụ chung.
- Niềm tin vào thắng lợi của cuộc kháng chiến.
II. VIẾT
Viết 1 đoạn văn phân tích hiệu quả của việc kết hợp yếu tố phi hư cấu và những sáng tạo riêng của tác giả thể hiện trong đoạn văn bản.
- Hiểu khái niệm yếu tố phi hư cấu.
- Chỉ ra biểu hiện của yếu tố phi hư cấu và sự sáng tạo nghệ thuật.
- Đánh giá hiệu quả.
1. Mở đoạn
Nêu vấn đề: sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố phi hư cấu và những sáng tạo nghệ thuật, góp phần tạo nên sức hấp dẫn của tác phẩm hồi kí.
2. Phân tích
a. Yếu tố phi hư cấu
- Các sự kiện, nhân vật, địa danh, thời gian đều có thật:
- Thời gian: tháng 5 năm 1967.
- Địa danh: Thanh Hóa, Vĩnh Linh, Hà Tĩnh.
- Nhân vật: tác giả, ông bà I-ven, Mác-xơ-lin, Đào Lê Bình,...
- Sự kiện: đoàn vượt tuyến lửa, bị bom bi, tai nạn trên đường,...
=> Hiệu quả: tạo tính chân thực, xác thực, tăng sức thuyết phục và giá trị tư liệu lịch sử.
b. Những sáng tạo riêng của tác giả
- Lựa chọn các chi tiết tiêu biểu, giàu sức gợi (ánh sáng xanh ma quái, tiếng bom, vết thương,...).
- Kết hợp linh hoạt tự sự, miêu tả và biểu cảm.
- Ngôn ngữ giàu hình ảnh; nhịp kể nhanh, dồn dập ở những tình huống nguy hiểm.
- Khắc họa tâm lí, cảm xúc của người trong cuộc.
=> Hiệu quả: làm cho câu chuyện lịch sử trở nên sinh động, giàu cảm xúc; nổi bật sự khốc liệt của chiến tranh và vẻ đẹp của con người trong chiến tranh.
3. Kết đoạn
Khẳng định ý nghĩa của sự kết hợp giữa tính chân thực của hồi kí và sự sáng tạo nghệ thuật đã tạo nên giá trị nội dung và sức hấp dẫn của đoạn trích
Từ nội dung đoạn trích trên, hãy viết một bài văn nghị luận xã hội (khoảng 600 chữ) về tinh thần đoàn kết và sự sẻ chia trong những thời khắc khó khăn của con người trong đời sống xã hội.
- Vận dụng kĩ năng viết bài văn nghị luận xã hội
- Kết hợp các thao tác giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, bác bỏ và rút ra bài học nhận thức, hành động.
- Đảm bảo bố cục: Mở - Thân - Kết
1. Mở bài
Dẫn dắt và giới thiệu vấn đề nghị luận
2. Thân bài
a) Giải thích
- Đoàn kết là sự gắn bó, đồng lòng, hợp tác giữa các cá nhân vì mục tiêu chung.
- Sẻ chia là biết đồng cảm, quan tâm, giúp đỡ người khác bằng cả vật chất và tinh thần.
=> Đoàn kết và sẻ chia là những phẩm chất tốt đẹp, góp phần gắn kết con người trong cộng đồng.
b) Bàn luận: Ý nghĩa của tinh thần đoàn kết và sự sẻ chia
- Giúp con người có thêm sức mạnh để vượt qua khó khăn, thử thách.
- Tạo nên sức mạnh tập thể, nâng cao hiệu quả giải quyết vấn đề.
- Gắn kết các cá nhân, xây dựng cộng đồng đoàn kết, nhân ái.
- Lan tỏa những giá trị tốt đẹp, nuôi dưỡng lòng yêu thương và trách nhiệm với xã hội.
c) Bài học nhận thức và hành động
- Nhận thức được rằng đoàn kết và sẻ chia là những giá trị nhân văn tốt đẹp, là sức mạnh giúp con người vượt qua khó khăn, thử thách.
- Sống chan hòa, biết quan tâm, lắng nghe và đồng cảm với những người xung quanh.
- Sẵn sàng giúp đỡ người khác bằng những việc làm thiết thực, phù hợp với khả năng của bản thân.
- Tích cực tham gia các hoạt động thiện nguyện, hoạt động vì cộng đồng; chung tay hỗ trợ những người gặp khó khăn.
d) Mở rộng, phản đề
- Phê phán những người sống ích kỉ, thờ ơ, vô cảm trước khó khăn của người khác.
- Đoàn kết không có nghĩa là bao che cho những việc làm sai trái; sẻ chia cần xuất phát từ sự chân thành và đúng đắn.
3. Kết bài
- Khẳng định lại ý nghĩa của tinh thần đoàn kết và sự sẻ chia trong cuộc sống.
- Liên hệ bản thân





