Đề thi tham khảo giữa học kì 2 Văn 12 - Đề số 1
I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau:
Ngày 21.1.1973, tôi trở lại Paris, thời tiết Paris bớt lạnh, nắng đẹp. Ngày 23.1.1973 đồng chí Lê Đức Thọ và Henri Kissinger ký tắt vào văn bản Hiệp định. Và Hiệp định Paris được ký kết. Đòi hỏi dai dẳng từ đầu của Mỹ “Hai bên cùng rút quân (quân Mỹ và quân miền Bắc)”, cái gọi là “có đi có lại” đã thất bại. Phải ký Hiệp định hòa bình với Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam rõ ràng Mỹ không còn con đường nào khác. Chúng ta đã đạt được thắng lợi to lớn, quan trọng, Mỹ phải rút hết đi, còn quân Việt Nam vẫn ở trên đất Việt Nam.
Trong lòng tôi, một cảm xúc mãnh liệt, bên cạnh một cảm giác bình thản, vì đinh ninh cái gì phải đến, tất sẽ đến.
Ngày 27.1.1973, ngày ký kết Hiệp định Paris, có một ý nghĩa lịch sử to lớn đối với dân tộc.
Đối với mỗi chúng tôi trong đoàn cũng là ngày không thể quên trong cả cuộc đời. Tất cả các báo trên thế giới đều đưa lên trang nhất sự kiện trọng đại này. Những người yêu hòa bình và công lý trên thế giới đều hồ hởi như chính mình đã chiến thắng.
Đêm 26 tháng Giêng, trong cả hai đoàn hầu như không ai ngủ, mọi người đều khẩn trương chuẩn bị cho công việc sẽ làm trong ngày hôm sau.
Sáng 27.1.1973, phòng hội nghị Kléber rực sáng ánh đèn. Trước nhà hội nghị, hàng ngàn người - kiều bào ta, bạn bè Pháp và các nước - vẫy chào chúng tôi giữa một rừng cờ. Tôi bước vào phòng họp, rất hồi hộp... Đúng 10 giờ, bốn Bộ trưởng Ngoại giao của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Nguyễn Duy Trinh), Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam (Nguyễn Thị Bình), Mỹ (William P. Rogers), Cộng hòa miền Nam (Trần Văn Lắm) ngồi vào bàn. Mỗi người ký vào 32 văn bản của Hiệp định.
Đặt bút ký vào bản Hiệp định Paris lịch sử, tôi vô cùng xúc động... Tôi như thay mặt nhân dân và các chiến sĩ cách mạng miền Nam Việt Nam làm nhiệm vụ đấu tranh trên tiền tuyến và trong lao tù cầm ngọn cờ chiến thắng chói lọi. Vinh dự đó đối với tôi thật quá to lớn. Tôi không có đủ lời để nói lên được lòng biết ơn vô tận đối với đồng bào và chiến sĩ từ Nam chí Bắc đã chấp nhận mọi hy sinh dũng cảm chiến đấu để có được thắng lợi to lớn hôm nay, biết ơn Bác Hồ và cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Đảng, Mặt trận và Chính phủ Cách mạng Lâm thời đã tin cậy giao cho tôi nhiệm vụ khó khăn nhưng rất vẻ vang này. Tôi muốn nói lời cảm ơn sâu sắc bà con Việt kiều tại Pháp và các nước xung quanh, cảm ơn bạn bè quốc tế đã hết lòng vì cuộc chiến đấu của chúng ta, cảm ơn sự đoàn kết cộng tác của tất cả anh chị em trong hai đoàn đàm phán và các cơ quan, đoàn thể của ta ở Paris. Và tôi nghĩ đến gia đình, đến chồng con...
(Trích Hồi kí Gia đình, bạn bè và đất nước, Nguyễn Thị Bình, NXB Tri thức, tr.130 - 132)
Chú thích:
Bà Nguyễn Thị Bình, tên thật Nguyễn Châu Sa, sinh ngày 26-5-1927, tại làng La Kham, Điện Quang, Điện Bàn, Quảng Nam, trong một gia đình có truyền thống cách mạng: ông nội là nghĩa binh trong phong trào Cần vương, chiến đấu và hy sinh tại quê nhà, ông ngoại là nhà chí sỹ yêu nước Phan Châu Trinh. Bà từng giữ chức Bộ trưởng Bộ giáo dục Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất, tháng 02-1987, bà được phân công làm Phó Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Liên hiệp Hòa bình Đoàn kết hữu nghị với Việt Nam; đại biểu Quốc hội các khoá VI, VII, VIII, IX, Phó Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Bà nghỉ hưu năm 2002.
Hồi kí Gia đình, bạn bè và đất nước là cuốn sách tái hiện cuộc đời của bà Nguyễn Thị Bình, một nhân chứng sống đã tham gia, chứng kiến những chuyển biến thăng trầm của lịch sử.
Liệt kê các sự việc được nhắc đến trong văn bản
Đọc kĩ văn bản, xác định các sự kiện chính được kể theo trình tự thời gian.
- Các sự việc được nhắc đến trong văn bản gồm:
+ Ngày 21/1/1973, “tôi” trở lại Paris.
+ Ngày 23/1/1973, đồng chí Lê Đức Thọ và Henry Kissinger ký tắt văn bản Hiệp định Paris. Mỹ chấp nhận ký Hiệp định với Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, từ bỏ yêu sách "hai bên cùng rút quân".
+ Đêm 26/1/1973, các đoàn khẩn trương chuẩn bị cho lễ ký kết.
+ Sáng 27/1/1973, lễ ký chính thức Hiệp định Paris diễn ra tại phòng hội nghị Kléber.
Những cảm xúc nào của tác giả được bộc lộ trong văn bản khi nhớ lại sự kiện ký kết Hiệp định Paris?
Đọc các chi tiết miêu tả trực tiếp cảm xúc và những từ ngữ biểu cảm của nhân vật “tôi”
Khi nhớ lại sự kiện ký kết Hiệp định Paris, tác giả bộc lộ nhiều cảm xúc:
- Xúc động, tự hào.
- Bình thản, tin tưởng vào thắng lợi tất yếu.
- Biết ơn đồng bào, chiến sĩ, Bác Hồ, lãnh đạo Đảng, bạn bè quốc tế,...
- Vinh dự khi được thay mặt nhân dân thực hiện nhiệm vụ lịch sử.
Tính xác thực của thể hồi kí được thể hiện qua những yếu tố nào của văn bản?
- Vận dụng hiểu biết về đặc trưng thể loại hồi kí
- Chỉ ra và nêu biểu hiện của các yếu tố làm nên tính xác thực
- Tính xác thực của hồi kí được thể hiện qua:
+ Các mốc thời gian cụ thể: 21/1/1973, 23/1/1973, 26/1/1973, 27/1/1973.
+ Địa điểm xác thực: Paris, phòng hội nghị Kléber.
+ Nhân vật và sự kiện lịch sử có thật: Nguyễn Thị Bình, Lê Đức Thọ, Henry Kissinger, William P. Rogers, Trần Văn Lắm; sự kiện ký kết Hiệp định Paris.
+ Người kể xưng "tôi", là nhân chứng trực tiếp tham gia sự kiện.
Xác định chủ đề của văn bản
Khái quát nội dung chính và tư tưởng mà văn bản hướng tới.
Chủ đề của văn bản: Ca ngợi thắng lợi vẻ vang của dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập, đồng thời thể hiện niềm tự hào, lòng biết ơn và trách nhiệm của người trực tiếp làm nên sự kiện lịch sử.
Qua những cảm xúc của tác giả khi đặt bút ký Hiệp định Paris, anh/chị rút ra bài học gì về trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc giữ gìn và phát huy những thành quả của lịch sử dân tộc? (Trình bày khoảng 5–7 dòng.)
Rút ra bài học từ nội dung văn bản; liên hệ với trách nhiệm của thanh niên hiện nay.
Gợi ý:
- Nhận thức được giá trị của hòa bình, độc lập được đánh đổi bằng sự hi sinh của nhiều thế hệ.
- Biết trân trọng, gìn giữ những thành quả cách mạng và truyền thống dân tộc.
- Nuôi dưỡng lòng biết ơn đối với các thế hệ đi trước.
- Không ngừng học tập, rèn luyện phẩm chất, năng lực để góp phần xây dựng và bảo vệ đất nước.
- Sống có lí tưởng, trách nhiệm, sẵn sàng cống hiến vì cộng đồng và Tổ quốc.
II. VIẾT
Anh/Chị hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích tâm trạng nhân vật tôi trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.
- Xác định yêu cầu: phân tích tâm trạng nhân vật "tôi".
- Bám sát diễn biến cảm xúc trong đoạn trích.
- Kết hợp phân tích với dẫn chứng tiêu biểu.
- Mở đoạn Giới thiệu nhân vật “tôi” và hoàn cảnh bộc lộ tâm trạng.
- Thân đoạn Làm rõ các trạng thái cảm xúc:
+ Xúc động mãnh liệt trước thắng lợi lịch sử của dân tộc.
+ Bình thản nhưng đầy niềm tin, bởi tin vào sức mạnh của chính nghĩa.
+ Hồi hộp khi bước vào lễ ký kết.
+ Tự hào, vinh dự khi được thay mặt nhân dân ký Hiệp định.
+ Biết ơn sâu sắc đối với Bác Hồ, Đảng, đồng bào, chiến sĩ, bạn bè quốc tế và gia đình.
=> Qua đó làm nổi bật vẻ đẹp của người chiến sĩ cách mạng: khiêm nhường, giàu trách nhiệm, hết lòng vì đất nước.
Có sử dụng dẫn chứng trong văn bản phù hợp
- Kết đoạn: Khẳng định ý nghĩa của những cảm xúc ấy trong việc làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách của bà Nguyễn Thị Bình.
Từ kết quả đọc hiểu văn bản Hồi kí Gia đình, bạn bè và đất nước của Nguyễn Thị Bình. Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn về vấn đề: niềm tin, trách nhiệm và tinh thần cống hiến của con người
- Vận dụng kĩ năng viết bài văn nghị luận xã hội
- Kết hợp các thao tác giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, bác bỏ và rút ra bài học nhận thức, hành động.
- Đảm bảo bố cục: Mở - Thân - Kết
1. Mở bài
- Dẫn dắt từ văn bản đọc hiểu.
- Giới thiệu vấn đề nghị luận: niềm tin, trách nhiệm và tinh thần cống hiến
2. Thân bài
a) Giải thích
- Niềm tin: sự tin tưởng vào bản thân, vào mục tiêu, vào những giá trị tốt đẹp.
- Trách nhiệm: ý thức và bổn phận đối với bản thân, gia đình, cộng đồng và đất nước.
- Tinh thần cống hiến: sẵn sàng đem trí tuệ, sức lực để phục vụ lợi ích chung.
b) Bàn luận
- Niềm tin là nền tảng để con người vượt qua khó khăn và vươn tới thành công.
+ Niềm tin giúp con người có động lực, bản lĩnh, sự kiên trì trước thử thách.
+ Người có niềm tin sẽ dám ước mơ, dám hành động và không dễ bỏ cuộc.
- Trách nhiệm là phẩm chất làm nên giá trị của mỗi cá nhân.
+ Trách nhiệm là ý thức hoàn thành tốt bổn phận với bản thân, gia đình, cộng đồng và đất nước.
+ Người có trách nhiệm sẽ chủ động, nghiêm túc trong học tập, công việc và biết đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân.
- Tinh thần cống hiến giúp con người tạo nên giá trị cho bản thân và xã hội.
+ Cống hiến là sẵn sàng đem trí tuệ, tài năng, sức lực để phục vụ cộng đồng.
+ Người biết cống hiến không chỉ góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội mà còn khẳng định ý nghĩa cuộc sống của chính mình.
=> Ba yếu tố có mối quan hệ chặt chẽ: có niềm tin mới dám gánh vác trách nhiệm; có trách nhiệm mới sẵn sàng cống hiến; cống hiến lại củng cố niềm tin và tạo nên giá trị cuộc sống.
c) Bài học nhận thức và hành động
- Nhận thức được niềm tin, trách nhiệm và tinh thần cống hiến là những phẩm chất quan trọng làm nên giá trị của mỗi con người.
- Xây dựng niềm tin vào bản thân, kiên trì theo đuổi mục tiêu và không ngại khó khăn, thử thách.
- Có trách nhiệm trong học tập, lao động và các mối quan hệ; hoàn thành tốt bổn phận của mình.
- Tích cực rèn luyện phẩm chất, năng lực, bồi dưỡng tri thức và kĩ năng để cống hiến cho xã hội.
- Bắt đầu từ những việc làm thiết thực: sống trung thực, có kỉ luật, tham gia các hoạt động vì cộng đồng, lan tỏa những giá trị tốt đẹp.
d) Mở rộng: Phê phán những người sống ích kỉ, vô trách nhiệm, thiếu niềm tin, ngại cống hiến, chỉ quan tâm lợi ích cá nhân.
3. Kết bài
- Khẳng định ý nghĩa của niềm tin, trách nhiệm và tinh thần cống hiến đối với mỗi cá nhân và sự phát triển của đất nước.
- Liên hệ, rút ra thông điệp





