Đề thi tham khảo học kì 1 Văn 12 - Đề số 3
I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau
Tổ quốc ở Trường Sa
(Tưởng nhớ những chiến sĩ hy sinh ở đảo đá Gạc Ma )
(1)Các con đứng như tượng đài quyết tử
Thêm một lần Tổ quốc được sinh ra
Dòng máu Việt chảy trong hồn người Việt
Đang bồn chồn thao thức với Trường Sa
(2)Khi hy sinh ở đảo đá Gạc Ma
Họ đã lấy ngực mình làm lá chắn
Để một lần Tổ quốc được sinh ra
Máu của họ thấm vào lòng biển thẳm
(3)Cờ Tổ quốc phất lên trong mưa đạn
Phút cuối cùng đảo đá hóa biên cương
Họ đã lấy thân mình làm cột mốc
Chặn quân thù trên biển đảo quê hương
(4)Họ đã hóa cánh chim muôn dặm sóng
Hướng về nơi đất mẹ vẫn mong chờ
Nếu mẹ gặp cánh chim về từ biển
Con đấy mà, mẹ đã nhận ra chưa!
(5)Có nơi nào như Đất nước chúng ta
Viết bằng máu cả ngàn chương sử đỏ
Khi giặc đến vạn người con quyết tử
Cho một lần Tổ quốc được sinh ra
(6)Biển mùa này sóng dữ phía Hoàng Sa
Các con mẹ vẫn ngày đêm bám biển
Mẹ Tổ quốc vẫn luôn ở bên ta
Như máu ấm trong màu cờ nước Việt
(7)Biển Tổ quốc đang cần người giữ biển
Máu ngư dân trên sóng lại chan hòa
Máu của họ ngân bài ca giữ nước
Để một lần Tổ quốc được sinh ra
(8)Việt Nam ơi! dưới bão táp mưa sa
Người thắp sáng một niềm tin bền bỉ
Những giếng dầu trụ vững giữa khơi xa
Dầu là máu thắp trên thềm lục địa
(9)Sớm mai này nắng ấm ở Trường Sa
Tiếng gà gáy bình yên trên ngực đảo
Tiếng trẻ nhỏ đến trường nơi sóng bão
Thêm một lần Tổ quốc được sinh ra
21.6.2011
Nguyễn Việt Chiến
Nguyễn Việt Chiến (1952) yêu thơ và làm thơ từ rất sớm, có thơ in ở các báo Trung ương từ năm lớp 9 khi đang theo học tại trường Chu Văn An, năm 1969. Nhà thơ từng có 4 năm tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Anh nhập ngũ năm 1970 và xuất ngũ năm 1974, liền đó thi đỗ đại học ngành địa chất, nhưng anh lại có duyên với nghề báo nên năm 1991, anh về công tác tại Báo Văn nghệ và năm 1992, chuyển sang làm phóng viên ở Báo Thanh niên. Có thời gian, anh công tác tại Báo Đời sống và Pháp luật, Tạp chí Nghệ thuật mới của Hội Nhà văn Việt Nam...
Từ lâu Nguyễn Việt Chiến đã được định vị là một nhà thơ về Tổ quốc, yêu thơ, làm thơ từ rất sớm và luôn thể hiện phẩm hạnh thi sĩ. Ông có nhiều bài thơ hay với nhiều đề tài đa dạng, nhưng lĩnh vực nào cũng đầy cảm xúc mới lạ, độc đáo. Có thể nói, đề tài thành công nhất trong cuộc đời sáng tác thi ca của anh chính là đề tài biển, đảo và Tổ quốc.
Chỉ ra dấu hiệu xác định thể thơ của văn bản trên.
Xác định thể thơ dựa vào số tiếng trong mỗi dòng thơ, cách ngắt nhịp và đặc điểm gieo vần.
- Văn bản được viết theo thể thơ tám chữ.
- Dấu hiệu:
+ Mỗi dòng thơ gồm 8 tiếng.
+ Nhịp thơ linh hoạt (thường 4/4), phù hợp với mạch cảm xúc.
+ Cách gieo vần không gò bó, tạo âm hưởng trang trọng, hào hùng.
Trong khổ thơ thứ (2) và (7), tác giả đã khắc hoạ hình ảnh biển đảo quê hương gắn với sự hy sinh của những người như thế nào?
Đọc kĩ hai khổ thơ, xác định các hình ảnh, chi tiết thể hiện sự hi sinh của con người gắn với biển đảo
Trong khổ thơ thứ (2) và (7), tác giả đã khắc hoạ hình ảnh biển đảo quê hương gắn với sự hy sinh của những người sau:
- Đó là sự xả thân anh dũng, bất khuất của những người lính đảo lấy thân mình làm lá chắn, làm cột mốc giữ gìn biên cương;
- Đó còn những người ngư dân can đảm, kiên cường ngày đêm bám biển. Máu của họ làm nên vị mặn của biển, làm nên sắc đỏ của lá cờ.
Nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong đoạn thơ
“Biển mùa này sóng dữ phía Hoàng Sa
Các con mẹ vẫn ngày đêm bám biển
Mẹ Tổ quốc vẫn luôn ở bên ta
Như máu ấm trong màu cờ nước Việt”
- Xác định biện pháp tu từ
- Chỉ ra biểu hiện và phân tích tác dụng
- BPTT so sánh: Mẹ Tổ quốc ở bên ta như máu ấm trong màu cờ nước Việt
- Tác dụng:
+ Góp phần làm cho lời thơ thêm sinh động, hấp dẫn, gợi hình gợi cảm,…
+ Nhấn mạnh Tổ quốc luôn hiện diện thiêng liêng, gần gũi và gắn bó máu thịt với mỗi con người Việt Nam.
+ Khơi gợi tình yêu quê hương, niềm tự hào dân tộc và ý thức trách nhiệm bảo vệ chủ quyền biển đảo.
Nhận xét của anh/ chị về tình cảm, cảm xúc của nhân vật trữ tình thể hiện trong bài thơ?
Khái quát cảm xúc chủ đạo của nhân vật trữ tình; chỉ ra các biểu hiện cụ thể trong bài thơ.
Nhận xét về tình cảm, cảm xúc của nhà thơ thể hiện trong bài thơ: chân thành, mãnh liệt, sâu sắc, phong phú ,…dành cho Tổ quốc, nhân dân.
- Khắc cốt ghi tâm sự hy sinh anh dũng của các chiến sĩ Gạc Ma; niềm cảm phục, tự hào, biết ơn,
- Tình cảm, cảm xúc dành cho những người vô danh, thầm lặng hoá thân vào đất nước gắn liền với tình yêu sâu đậm dành cho biển đảo quê hương.
- Còn thể hiện lòng biết ơn và sự trân trọng đối với ngư dân. Họ là những người hy sinh, đổ mồ hôi, thậm chí máu để bảo vệ biển đảo quê hương.
- Niềm vui sướng, hạnh phúc về cuộc sống bình yên, giản dị trên biển đảo
- Còn thể hiện niềm tự hào về lịch sử, niềm tin yêu mãnh liệt về sức sống, vươn mình của Tổ quốc đồng thời cũng nhắc nhở mỗi chúng ta về ý thức trách nhiệm đối với nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng đất nước.
Từ nội dung gợi ra của bài thơ, anh/ chị có suy nghĩ gì về người trẻ cần có những giải pháp trong việc bảo vệ, phát triển biển đảo quê hương ? (trình bày khoảng 5 đến 7 câu).
Liên hệ bản thân
Rút ra thông điệp từ văn bản
- Cần nhận thức rõ bảo vệ … là vai trò, trách nhiệm của mỗi người trẻ; là sự tiếp nối truyền thống, sứ mệnh thiêng liêng, hiểu rõ về giá trị và tầm quan trọng của biển đảo quê hương.
- Cần phải biết yêu, tự hào biết ơn, gắn bó, tuyên truyền, giáo dục về tình yêu, trách nhiệm, …
- Đặc biệt cần có nhiều hành động tích cực, thiết thực:
+ Phải bám trụ biển, bảo vệ, xây dựng phát triển biển đạo quê hương như chính phát triển bản thân mình.
+ Tích cực học tập kiến thức kĩ năng, cập nhật tình hình mới, công nghệ hiện đại, để vừa nâng cao những hiểu biết về biển đảo, biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường biển, ...
+ Hành động lan toả, kết nối, khơi sâu tinh thần đoàn kết, hỗ trợ lẫn nhau, cùng nhau bảo vệ quê hương; sẵn sàng cống hiến và hy sinh vì sự nghiệp chung.
+ Luôn nâng cao tinh thần cảnh giác, biết dùng mạng xã hội, các nền tảng để lan toả vẻ đẹp của biển đảo quê hương với thế giới góp phần phát triển biển đảo quê hương trên mọi mặt trận.
II. VIẾT
Anh/ chị hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) thể hiện những cảm nhận về vẻ đẹp hình ảnh biển đảo trong bài thơ “ Tổ quốc ở Trường Sa” trên phần Đọc hiểu.
- Xác định đúng đối tượng nghị luận: vẻ đẹp hình ảnh biển đảo trong bài thơ.
- Phân tích các biểu hiện của hình ảnh biển đảo.
- Nhận xét nghệ thuật.
- Đánh giá ý nghĩa, tư tưởng.
- Giới thiệu xuất xứ của hình ảnh biển đảo cần nghị luận
- Biển gắn với địa danh cụ thể: Trường Sa, đảo Gạc Ma. Đây là nơi diễn ra những trận chiến quyết tử, nơi hội tụ nhiều vẻ đẹp Việt Nam.
- Biển đảo gắn với sự dũng cảm, kiên cường, hi sinh của con người: đó là những người lính đảo lấy thân mình làm lá chắn; đó còn những người ngư dân ngày đêm bám biển. Máu của họ làm nên vị mặn của biển, làm nên sắc đỏ của lá cờ. Mỗi lần họ ngã xuống là một lần Tổ quốc được sinh ra, họ chính là những người anh hùng vô danh mà bất tử góp phần làm nên Đất nước.
- Biển đảo gắn với cuộc sống bình yên: hình ảnh nắng ấm, âm thanh tiếng gà gáy, tiếng trẻ nhỏ đến trường… gợi lên một cuộc sống bình dị, thân thương, vui tươi, dường như không còn khoảng cách giữa biển và đất liền. Máu của những người nằm xuống đã nở thành hoa của tự do, hạnh phúc, gợi lên niềm tin yêu vào cuộc sống, niềm lạc quan vào tương lai.
- Biển đảo là biểu tượng của chủ quyền, của kết tinh tình yêu quê hương, lòng tự hào, biết ơn, niềm tin bất diệt và trách nhiệm gắn bó muôn đời cùng nhân dân, Tổ quốc. Trước hết là tư tưởng, tìm cảm, cảm xúc mãnh liệt của nhà thơ và rộng hơn là của muôn triệu trái tim thế hệ người Việt Nam.
- Hình ảnh biển đảo được khắc họa bằng từ ngữ, hình ảnh giản dị, gần gũi mà giàu sức gợi, bằng nhiều biện pháp tu từ như so sánh, ẩn dụ, điệp, …
Anh/ chị hãy viết một bài nghị luận xã hội (khoảng 600 chữ) bày tỏ suy nghĩ về vấn đề sau: “Người trẻ sống là không chờ đợi hay cần phải sống chậm lại để tận hưởng vẻ đẹp cuộc sống”.
- Vận dụng kĩ năng viết bài văn nghị luận xã hội
- Kết hợp các thao tác giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, bác bỏ và rút ra bài học nhận thức, hành động.
- Đảm bảo bố cục: Mở - Thân - Kết
* Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận.
* Thân bài:
- Giải thích:
+ Sống không chờ đợi là sống hết mình, tích cực, chủ động trước hiện tại, luôn biết tận dụng mọi nguồn lực để tận hưởng, tận hiến cuộc sống, biết hướng đến tương lai,…
+ Sống chậm lại là sống bình lặng, sống không vội vàng, không hối hả để có thể trải nghiệm, quan sát, tận hưởng được nhiều vẻ đẹp cuộc sống,…
=> Hai cách sống không hoàn toàn đối lập mà đều hướng đến mục tiêu giúp con người sống ý nghĩa và hạnh phúc hơn.
- Bàn luận, thể hiện quan điểm của người viết, có thể theo một số gợi ý sau:
+ Người trẻ năng động, tràn đầy sức trẻ, khao khát, đam mê, nhu cầu khẳng định giá trị bản thân trong nhiều lĩnh vực.
+ Nhiều bạn trẻ chọn sống nhanh tận dụng từng giây từng phút, sống chủ động, tích cực, không chờ đợi trong cả cống hiến và hưởng thụ cuộc sống. Bởi họ nhận ra trong thời đại công nghệ số hiện nay, lối sống này đem lại cho họ nhiều lợi ích: vui vẻ, hạnh phúc, thành công, được kết nối, được cống hiến, …
+ Tuy nhiên, họ cũng không tránh khỏi những lúc mệt mỏi, áp lực, không chăm sóc bản thân chu đáo, bỏ qua nhiều cơ hội để yêu và cảm nhận cuộc sống.
+ Bên cạnh đó nhiều người trẻ chọn sống chậm lại, không phải vì họ quen lề mề, thụ động, dựa dẫm, trông chờ vào người khác; chỉ đơn giản là họ thích nhịp sống chậm rãi, an nhan, thảnh thơi, ưu tiên chăm sóc bản thân, thưởng thức và cảm nhận mọi hương vị cuộc sống.
+ Cũng vì thế, họ dễ bằng lòng với những thứ mình có, ít tạo được thành tựu mang tính đột phá, không có những cống hiến mang tính liên tục; họ cũng không bận tâm lo cho tương lai, không lo sợ cái gọi là “trẻ không xông pha, già hối tiếc”.
+ …
* Mở rộng vấn đề:
- Phê phán những người sống thụ động, chỉ biết chờ đợi cơ hội hoặc phụ thuộc vào người khác.
- Phê phán lối sống chạy theo thành tích, thành công bằng mọi giá, đánh đổi sức khỏe, hạnh phúc và các giá trị nhân văn.
* Bài học nhận thức và hành động:
- Mỗi người trẻ cần xác định mục tiêu sống rõ ràng, chủ động học tập và rèn luyện để phát triển bản thân.
- Biết quản lí thời gian hợp lí, cân bằng giữa học tập, công việc, nghỉ ngơi và các mối quan hệ.
- Luôn giữ tinh thần cầu tiến, sẵn sàng cống hiến nhưng cũng biết trân trọng những giá trị bình dị, ý nghĩa trong cuộc sống.
- Xây dựng lối sống linh hoạt, để mỗi khoảnh khắc dù hành động quyết liệt hay sống chậm đều trở thành những dấu ấn đáng quý của tuổi trẻ.
3. Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận.





