Ghi nhớ nhanh các công thức và kiến thức trọng tâm.
Làm từng câu hỏi dưới áp lực thời gian.
Đọc văn bản sau:
Một ngày tháng Năm năm 1967.
Sau hai ngày đêm vượt phà, vượt những con đường lổn nhổn hố bom cày nát, mò mẫm đi trong đêm với ánh sáng leo lắt của một ngọn đèn nhỏ gắn ở gầm xe, chúng tôi từ Hà Nội đã đến địa phận tỉnh Thanh Hóa.
Cả ba chiếc xe Jeep, lá nguy trang phủ đầy, được cất giấu trong một con hào nửa chìm nửa nổi. Mười một anh em trong đoàn chia nhau mấy tấm phên tre đặt dưới hào, sát bên cạnh là những chiếc hầm sâu hơn để tránh bom. Đang mệt nhoài và ngủ mê mệt, bỗng những tiếng nổ chát chúa bên tai, những tia chớp xanh lét làm tôi bừng tỉnh dậy. Quay phim Đào Lê Bình hét lên: "Bom bi, bom bi!". Chỉ kịp với tay giật chiếc túi cấp cứu, tôi nhảy vội xuống hầm. Ông bà I-ven đã ngồi nép vào một góc hầm, ba anh bảo vệ ngồi xung quanh. Mỗi phút trôi qua, bom bi càng nổ chát chúa, những tia chớp xanh lạnh, chói lòa cả căn hầm. Bình hét lên: "Tôi bị thương rồi". Tôi đưa tay chạm vào cổ anh. Một dòng nước ấm nhơn nhớt chảy nhầy nhụa.
Tôi cầm vội con dao mổ nhỏ, sờ soạng vào cổ Bình và cảm nhận được một vật tròn tròn dưới làn da cổ. Một tia chớp, một bom bi lại nổ. Ông I-ven hét lên: "Phượng, hãy bình tĩnh! Săn sóc gấp cho Bình".
Tôi cầm con dao mổ, một tay bóp mạnh để gắng cố định viên bi đang nằm dưới làn da, tay kia khía mạnh. Viên bi tròn còn nóng máu người đã rơi thỏm xuống lòng bàn tay tôi. Máu ngừng chảy, vết thương được dán kín.
Cuộc thả bom chớp nhoáng đột ngột dừng. Không gian trở lại yên tĩnh một cách khác thường.
Trời mờ sáng. Ba chiếc xe Jeep bị bom phá tan hoang, két nước thủng lỗ chỗ, nệm ngồi văng tứ tung. Phi Hùng, người phụ trách an toàn của đoàn, gọi điện về Hà Nội xin chỉ thị. Như đoán biết trước, ông I-ven đi men theo vách hầm đến đưa cho tôi một mảnh giấy: "Chưa đi được một phần mười của hành trình. Chúng tôi quyêt định vẫn đi tiếp vào Vĩnh Linh. Chúng tôi không trở về đâu. Kí tên Giô-rít và Mác-xơ-lin". Chiều hôm ấy, lệnh hỏa tốc từ Hà Nội vào: "Bổ sung cho ba xe khác. Đoàn tiếp tục lên đường. Gắng bảo vệ tính mạng cho khách".
Và cứ thế, khi mặt trời lên, cả đoàn tìm vào các hầm trú ẩn của địa phương, hoặc chui vào các hốc đá, các hang đá nghỉ ngơi. Đôi khi vất vưởng ngồi dưới những hàng cây chạy dài ven suối. Chờ lúc chạng vạng tối lại lên xe, vượt bom, vượt pháo sáng, qua cầu phao, qua các đèo nham nhở đất đá tung toé. Khó chịu đựng nhất, gây căng thăng nhất và đáng sợ nhất là những đợt ánh sáng xanh ma quái khét lẹt kết hợp với tiếng gầm rú điên cuồng của đủ loại máy bay Mỹ chằng chịt xuyên qua bầu trời.
Đêm ấy, sau khi vượt an toàn qua hai phà, chiếc xe của Ngọc với ông bà I-ven, Phi Hùng, Bình và tôi, đang nghiêng ngả chạy như say rượu trên con đường chằng chịt hố bom, dưới ánh sáng xanh ma quái của pháo sáng. Tôi lim dim ngủ. Một tiếng động chát tai. Xe Ngọc chạm phải phía sau một xe vận tải. Chiếc xe Jeep nhảy chồm lên, những mảnh kính vỡ vụn bắn vào mặt tôi, máu chảy ròng ròng. Tôi nhảy vụt ra khỏi xe. Tiếng Mác-xơ-lin thét lên: "Ôi cái chân tôi!". Trong bóng tối, hàng chục cánh tay của các em thanh niên xung phong đang lấp hố bom gần đấy dìu chúng tôi vào một hố to khoét sâu bên thành vách đất. Những mảnh kính vỡ vụn được từ từ rút ra khỏi mặt tôi. Tôi mở mắt và thấy Mác-xơ-lin đang nép vào Giô-rít, chân phải đã được băng lại, cứng đờ. Đến một trạm quân y nằm khá xa tuyến lửa ở Hà Tĩnh, bác sĩ khám cho hai chúng tôi. Tôi được rửa sạch những vết thương trên mặt. Kì diệu thay tuổi trẻ, máu đã ngừng chảy. Vẫn còn bỏng rát, nhưng tôi đã có thể sẵn sàng lên đường. Riêng Mác-xơ-lin thì nghiêm trọng hơn, vết thương đầu gối khá nặng, phải nhập viện. Trạm quân y dã chiến này nằm cách đường khoảng hai mươi cây số, lẩn khuất trong những lùm tre. Ông I-ven quyết định ngay: "Để Mác-xơ-lin nằm điều trị tại đây. Tất cả đoàn chúng ta tối nay lên đường". Lúc ấy, nhà quay phim Thái Dũng đang bị thương và cũng đang nằm điều trị tại trạm quân y này. Tôi nhờ Thái Dũng trông nom giúp bà Mác-xơ-lin, rồi cả đoàn vội vã lên đường.
(Xuân Phượng, Gánh gánh...gồng gồng..., NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2022, tr 141,146)
Nêu hiệu quả của việc sử dụng ngôi kể trong văn bản trên.
Liệt kê các sự kiện được trình bày trong đoạn trích, qua các sự kiện đó, anh/chị hình dung như thế nào về bối cảnh lịch sử của thời đại?
Phân tích tác dụng của sự kết hợp giữa yếu tố miêu tả, tự sự và biểu cảm trong đoạn trích.
Phân tích hiệu quả của 01 biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn trích sau:
Và cứ thế, khi mặt trời lên, cả đoàn tìm vào các hầm trú ẩn của địa phương, hoặc chui vào các hốc đá, các hang đá nghỉ ngơi. Đôi khi vất vưởng ngồi dưới những hàng cây chạy dài ven suối. Chờ lúc chạng vạng tối lại lên xe, vượt bom, vượt pháo sáng, qua cầu phao, qua các đèo nham nhở đất đá tung toé.
Qua đoạn trích, anh/chị cảm nhận được gì về tinh thần và phẩm chất của những con người trong hoàn cảnh chiến tranh?
Viết 1 đoạn văn phân tích hiệu quả của việc kết hợp yếu tố phi hư cấu và những sáng tạo riêng của tác giả thể hiện trong đoạn văn bản.
Từ nội dung đoạn trích trên, hãy viết một bài văn nghị luận xã hội (khoảng 600 chữ) về tinh thần đoàn kết và sự sẻ chia trong những thời khắc khó khăn của con người trong đời sống xã hội.