Đề tham khảo giữa học kì 1 Văn 9 - Đề số 10

Điểm số0
Câu hỏi1/4

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

Từ cờ thắm trỏ vời cõi Bắc,Nghĩa tôn phù vằng vặc bóng dương.Rút dây vâng mệnh phụ hoàng,Thuyền lan chèo quế thuận đường vu quy.Trăm ngàn dặm quản chi non nước;Chữ "nghi gia" mừng được phải duyên.Sang yêu muôn đội ơn trên,Rỡ ràng vẻ thúy, nối chen tiếng cầm.Lượng che chở, vụng lầm nào kể.Phận đinh ninh cặn kẽ mọi lời.Dẫu rằng non nước biến dời,Nguồn tình ắt chẳng chút vơi đâu là.Lòng đùm bọc thương hoa đoái cội,Khắp tôn thân cùng đội ơn sang.Miếu đường còn dấu chưng thường,Tùng thu còn rậm mấy hàng xanh xanh.Nhờ hồng phúc, đôi cành hòe quếĐượm hơi dương dây rễ cùng tươi Non Nam lần chúc tuổi trời,Dâng câu Thiên Bảo, bày lời Hoa Phong.Những ao ước trập trùng tuổi hạc,Nguyền trăm năm ngõ được vầy vui.Nào hay sông cạn, bể vùi,Lòng trời giáo giở, vận người biệt ly.Từ nắng hạ, mưa thu trái tiết,Xót mình rồng mỏi mệt chẳng yên.Xiết bao kinh sợ, lo phiền,Miếu thần đả đảo, thuốc tiên lại cầu.Khắp mọi chốn đâu đâu tìm rước,Phương pháp nào đổi được cùng chăng?Ngán thay, máy Tạo bất bằng,Bóng mây thoắt đã ngất chừng xe loan.Cuộc tụ, tán, bi, hoan kíp bấy,Kể sum vầy đã mấy năm nay?Lênh đênh chút phận bèo mây,Duyên kia đã vậy, thân này nương đâu?

(Trích Ai tư vãn)

Năm 1792, vua Quang Trung mất, bà còn trẻ đã trở thành một goá phụ. Đây là bài Ai tư vãn, thi phẩm của Ngọc Hân công chúa mà nhiều người như ông Thuần Phong đã nói trong sách Chinh phụ ngâm khúc giảng luận (do Á Châu xuất bản), công nhận là chịu ảnh hưởng bản dịch Chinh phụ ngâm của bà Đoàn Thị Điểm.

Câu 1:

Xác định phương thức biểu đạt chính của bài thơ trên.

Gửi bài