Nhận định về bài thơ “Khuê oán” có người cho rằng: “Khuê oán là một đề tài thường gặp trong thơ. Nhưng cấu tứ đặc biệt của bài thơ này đã thể hiện quá trình tâm lí, bộc lộ được cả phần “tiềm ý thức” của người khuê phụ khiến bài thơ 28 chữ này rất tinh tế,

Bình chọn:
4.1 trên 8 phiếu

Khuê oán của Vương Xương Linh là một bài thơ hay viết về đề tài chiến tranh, về công danh, tình yêu và tuổi trẻ, những vấn đề luôn luôn day dứt trong tâm hồn con người mọi thời đại

      Vương Xương Linh là một trong những nhà thơ thời Thịnh Đường. Thơ ông hiện còn 186 bài, trong đó đặc sắc nhất là thơ thất ngôn tuyệt cú. Vương Xương Linh với phong cách tinh tế, trong trẻo, thường đề cập đến cuộc sống của tướng sĩ nơi biên cương, nỗi oán hờn của người cung nữ, nỗi li sầu biệt, hận của người thiếu phụ khuê các, tình bằng hữu chân thành trong sáng.

     “Khuê oán” của Vương Xương Linh là một bài thơ hay viết về đề tài chiến tranh, về công danh, tình yêu và tuổi trẻ, những vấn đề luôn luôn day dứt trong tâm hồn con người mọi thời đại. Trước Vương Xương Linh, cùng thời với Vương Xương Linh và cả sau Vương Xương Linh. ‘‘Khuê oán” là một đề tài thường gặp trong thơ. Nhưng cấu tứ đặc biệt của bài thơ này đã thể hiện được quá trình tâm lí, bộc lộ được cả phần “tiềm ý thức” của người khuê phụ, khiến bài thơ 28 chữ này rất tinh tế, đầy gợi cảm và đầy tính thuyết phục. Vì. vậy nó đã trở nên một bài thơ tiêu biểu cho tiếng nói phản đối chiến tranh”.

      Cái độc đáo của bài thơ này là ở cấu tứ của nó thể hiện qua quá trình chuyển biến tâm trạng của người khuê nhu từ vô tư (bất tri sầu) sang hối hận.

      Nhan đề là Khuê oán mà câu thơ mở đầu lại là:

Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu

       Đây là một phản đề. Chồng ra trận mà người thiếu phụ lại “không buồn” vì thời Thịnh Đường, Trung Quốc là một nước giàu mạnh và có lãnh thổ rộng lớn nhà Đường đã phái quân đội ra trấn thủ biên cương và nếu thuận lợi thì “mở mang bờ cõi”. Nhiều người ra biên cương và nếu thuận lợi thì “mở mang bờ cõi”. Nhiều người ra biên cương với hi vọng lập công để được phong hầu. Bởi vậy, người thiếu phụ có chồng ra trận mà vẫn thanh thản và vẫn làm công việc “muôn thuở” của người phụ nữ khuê các: trang điểm. Trang điểm rồi lên lầu ngắm cảnh cũng là chuyện bình thường. Lên lầu rồi, “chợt thấy màu dương liễu đầu đường”; “Màu dương liễu” trong thơ Đường (và thơ cổ Trung Quốc) là hình ảnh tượng trưng cho nỗi biệt li. Mùa đang xuân, người đang trẻ tuổi mà phải biệt li, nàng chợt cảm thây hối tiếc tuổi xuân, hối hận vì đã để chồng đi tìm kiếm ấn phong hầu. Ấn phong hầu chẳng biết có tìm được không nhưng sự thực thì chồng vợ phải sinh li. Mà sinh li này cũng có thể là tử biệt, vì “Xưa nay chinh chiến mấy ai về” (Vương Hàn, Lương Châu từ). Chính niềm hỗn hậu ấy cho nàng nhận thấy cái “ấn phong hầu” thật vô nghĩa so với hạnh phúc bình dị trong sự sum vầy. Cũng chính niềm hối hận ấy khiến nàng “oán” cái ấn phong hầu, oán chiến tranh phi nghĩa đã gây nên bao cảnh sinh li tử biệt.

     Muốn giải thích vì sao khi thấy “màu dương liễu” người khuê phụ lại hối hận đã để chồng đi tìm kiếm “ấn phong hầu”, cần phải biết ý nghĩa tượng trưng của “màu dương liễu”. Ở Trung Quốc người ta trồng rất nhiều cây liễu. Mùa xuân màu liễu xanh biếc khắp nơi. Bởi vậy màu dương liễu thường tượng trưng cho mùa xuân và tuổi trẻ. Trong tiếng Trung Quốc, từ liễu và từ lưu phát âm gần giống nhau. Do đó mỗi khi chia tay nhau, người ở lại thường bẻ một cành dương liễu tặng cho người ra đi với ngụ ý tặng nhau niềm tin lưu luyến. “Chiết liễu tặng biệt” từ lâu đã thành một phong tục. Bởi vậy trong thơ cổ Trung Quốc, đặc biệt là trong thơ Đường, “cành liễu”, màu dương liễu” hay động tác “bẻ liễu” đã trở thành một hình ảnh ước lệ, tượng trưng cho sự li biệt.

      Khi thấy “màu dương liễu”, người khuê phụ bỗng nghĩ đến tuổi trẻ của mình đang trôi qua mà vợ chồng thì xa cách mãi vì chồng đang đi ra trận lập công để kiếm “ấn phong hầu”. Bởi vậy người thiếu phụ “Hối hận đã để chồng đi tòng quân để tìm kiếm ấn phong hầu”.

      Trong 28 chữ của bài thơ, động từ hối (hối tiếc và hối hận) là quan trọng nhất, thể hiện thái độ oán ghét chiến tranh. Nhưng phó từ hốt (bỗng, chợt) cũng có ý nghĩa rất quan trọng. Trước cái khoảnh khắc “chợt (hốt) thấy màu dương liễu” là sự vô tư (bất tri sầu), sau khoảnh khắc “chợt thấy màu dương liễu” là nỗi hối hận và hờn oán. “Màu dương liễu” như một giọt chất xúc tác nhỏ vào tâm lí của người khuê phụ khiến phản ứng tâm lí lập tức xảy ra, từ vô tư đột biến thành “hối hận”. Phó từ hốt chính là chiếc bản lề của sự đột biến ấy.

      Với 28 chữ, bài “kliuê oán” tiêu biểu cho tinh thầu phản đối chiến tranh phi nghĩa của nhân dân thời Đường, cũng là của toàn nhân loại. Bởi bài thơ đề cập đến một vấn đề mang tính quy luật: chiến tranh phi nghĩa chỉ đem những điều sinh li tử biệt đến con người. Đó cũng là giá trị nhân đạo và ý nghĩa hiện đại của bài thơ Khuê oán. Nó nói lên ước vọng hòa bình, ước vọng hạnh phúc muôn thuở của con người trong mọi thời đại.

loigiaihay.com

 

 

Đọc hiểu Nỗi oán của người phòng khuê Đọc hiểu Nỗi oán của người phòng khuê

I - Gợi dẫn 1. Tác giả Vương Xương Linh (698 ? – 757), nhà thơ nổi tiếng thời Thịnh Đường, tự Thiếu Bá, người Kinh Triệu – Tràng An (nay là thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc). Năm 727, đỗ Tiến sĩ rồi lần lượt làm một số chức quan nhỏ, nhiều lần bị cách chức

Xem chi tiết
Soạn bài Nỗi oán của người phòng khuê Soạn bài Nỗi oán của người phòng khuê

Soạn bài Nỗi oán của người phòng khuê trang 161, 162 SGK Ngữ văn 10. Câu 2. Vì sao khi thấy "màu dương liễu" nàng lại hối hận vì đã để chồng đi kiếm tước hầu?

Xem chi tiết
Soạn bài Khe chim kêu Soạn bài Khe chim kêu

Soạn bài Khe chim kêu trang 163, 164 SGK Ngữ văn 10. Câu 1. Cây quế cành lá sum sê nhưng hoa rất nhỏ? Nhà thơ cảm nhận được hoa quế rơi. Chi tiết ấy cho thấy điều gì về cảnh đêm xuân và tâm hồn thi sĩ?

Xem chi tiết
Đọc hiểu Khe chim kêu Đọc hiểu Khe chim kêu

Gợi dẫn 1. Tác giả Vương Duy (701 – 761) là một trong những nhà thơ nổi tiếng đời Đường, tự là Ma Cật, người đất Kì, Thái Nguyên (nay thuộc tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc). Năm 21 tuổi ông đỗ tiến sĩ, ra làm quan, nhưng có một thời gian dài ông sống như người ẩn dật, “mỗi lần bãi triều về là đốt hương ngồi một mình, đọc kinh niệm Phật”

Xem chi tiết
Soạn bài Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy - Ngắn gọn nhất Soạn bài Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy - Ngắn gọn nhất

Soạn Văn lớp 10 ngắn gọn tập 1 bài Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy. Câu 1. Dựa theo cốt truyện, tìm những chi tiết liên quan đến nhân vật An Dương Vương.

Xem chi tiết
Soạn bài Uy-Lít-Xơ trở về - Ngắn gọn nhất Soạn bài Uy-Lít-Xơ trở về - Ngắn gọn nhất

Soạn Văn lớp 10 ngắn gọn tập 1 bài Uy-Lít-Xơ trở về. Câu 1. Văn bản trên có thể chia làm mấy đoạn? Nêu nội dung của mỗi đoạn.

Xem chi tiết
Anh chị hãy nêu cảm nghĩ của mình về truyền thuyết “An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy Anh chị hãy nêu cảm nghĩ của mình về truyền thuyết “An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy

“Tôi kể ngày xưa chuyện Mị Châu - Trái tim lầm chỗ để trên đầu - Nỏ thần vô ý trao tay giặc - Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu” (Tố Hữu)

Xem chi tiết
Soạn bài Ra-ma buộc tội - Ngắn gọn nhất Soạn bài Ra-ma buộc tội - Ngắn gọn nhất

Soạn Văn lớp 10 ngắn gọn tập 1 bài Ra – ma buộc tội (trích ra –ma – ya – na – sử thi ấn độ). Câu 1. Sau khi chiến thắng, Ra-ma và Xi-ta gặp lại nhau trước sự chứng kiến của “mọi người”.

Xem chi tiết

>>Học trực tuyến Lớp 10 trên Tuyensinh247.com, mọi lúc, mọi nơi tất cả các môn. Các thầy cô giỏi nổi tiếng, dạy hay dễ hiểu