Đọc hiểu bài thơ Cảm hoài

Bình chọn:
3.9 trên 7 phiếu

gợi dẫn 1. Tác giả Đặng Dung (? – 1414) người huyện Thiên Lộc (nay là huyện Can Lộc), tỉnh Hà Tĩnh, con tướng quân Đặng Tất. Ông từng tham gia đánh quân Minh lớn nhỏ hơn trăm trận chưa từng nhụt khí.

I - Gợi dẫn

1. Tác giả Đặng Dung (? – 1414) người huyện Thiên Lộc (nay là huyện Can Lộc), tỉnh Hà Tĩnh, con tướng quân Đặng Tất. Ông từng tham gia đánh quân Minh lớn nhỏ hơn trăm trận chưa từng nhụt khí.

   Năm 1414, Đặng Dung bị giặc Minh bắt đưa sang Trung Quốc, dọc đường ông nhảy xuống sông tự tử.

   Sáng tác của Đặng Dung chỉ còn lại bài thơ Nỗi lòng, bài thơ từng được Tử Tấn (đời Lê) đánh giá: “phi kẻ sĩ hào kiệt thì không làm nổi”. Thơ ông toát lên vẻ đẹp bi tráng của bậc anh hùng.

2. Tác phẩm

   Bài thơ này được làm theo thể thất ngôn bát cú Đường luật. Mỗi bài thất ngôn bát cú gồm tám câu, mỗi câu bảy chữ; toàn bài chỉ gieo một vần và thường là vần bằng, gieo ở chữ cuối; trừ hai câu đầu và hai câu cuối không nhất thiết đối nhau, bốn câu giữa đối với nhau từng cặ ; toàn bài chia làm bốn liên, mỗi liên gồm hai câu kề nhau, trong mỗi liên bằng trắc hai câu đối nhau, chữ thứ hai, bốn, sáu của câu hai ở liên trên và chữ thứ hai, bốn, sáu của câu thứ nhất của liên dưới bằng trắc giống nhau – tức là niêm.

   Có thể dựa vào bố cục chung của bài thất ngôn bát cú nói trên để phân tích bài thơ Nỗi lòng.

3. Cách đọc

   Đọc chậm, giọng trầm, vang, thể hiện tâm trạng bi tráng và khát vọng mạnh mẽ của tác giả.

II - kiến thức cơ bản

   Bài thơ này được làm theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, gồm bốn phần : đề, thực, luận, kết. Trong hai câu đề, câu thứ nhất là phá đề, mở ra ý của bài thơ ; câu thứ hai là thừa đề, tiếp ý của phá đề để chuyển vào thân bài. Hai câu thực giải thích ý của đề bài. Hai câu luận phát triển rộng ý của đề bài. Hai câu kết kết thúc ý của toàn bài.

1. Ngay từ hai câu đầu bài thơ, một tình thế bi kịch đã được nêu lên:

Việc thế lôi thôi tuổi tác này,

Mênh mông trời đất hát và say.

   Việc đời còn rối bời, mờ mịt mà người thì đã già, biết làm sao ! Mâu thuẫn không thể giải quyết ấy là nguyên nhân dẫn đến tình thế bi kịch. Bi kịch lực bất tòng tâm. Nỗi buồn vì tuổi tác này còn được nhắc lại trong câu 7: Quốc thù chưa trả già sao vội, đủ thấy đây là nỗi ám ảnh của nhà thơ. Hơn nữa, vũ trụ đang say sưa, mê mải, đắm chìm (hàm ca là đắm đuối vào chuyện uống rượu và ca múa) trong cuộc vần xoay muôn thuở của nó, như quay lưng lại với thế sự và con người: Mênh mông trời đất hát và say. Tình cảnh ấy khiến người anh hùng càng trở nên cô độc.

2. Từ tình thế bi kịch đã được nêu ra ở hai câu đầu, hai câu tiếp theo nêu lên cụ thể hơn nỗi niềm thời thế với tâm trạng oán hận của tác giả:

Gặp thời đồ điếu thừa nên việc,

Lỡ vận anh hùng luống nuốt cay.

   Nổi bật trong hai câu thơ này là sự đối lập giữa đồ điếu và anh hùngĐồ điếu nghĩa là mổ thịt, câu cá; tác giả có ý ám chỉ Phàn Khoái bán thịt chó và Hàn Tín câu cá sau giúp Hán Cao Tổ làm nên sự nghiệp lớn. Tác giả đối lập đồ điếu và anh hùng không phải nhằm xem thường, coi Phàn Khoái và Hàn Tín là bất tài mà chủ yếu để bày tỏ cảm khái thời vận lỡ dở. Bi kịch của một vị tướng già trở nên sâu sắc, thấm thía là bởi nó mang tính phổ quát nhân sinh.

3. Tình thế bất lực, cảm giác bi kịch được tiếp tục trong những hình ảnh khoáng đạt, đượm màu bi tráng ở hai câu 5 – 6:

Trí chủ hữu hoài phù địa trục,

(Giúp chúa những lăm giằng cốt đất)

Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.

(Rửa đòng không thể vén sông mây)

   Về hai câu này, GS Trần Đình Sử cho rằng: “Trí chủ” là báo đáp ơn vua. “Phù địa trục” là nâng đỡ trục đất, ý nói nâng đỡ giang sơn đang nghiêng đổ.

   “Tẩy binh” có nghĩa là xuất binh gặp mưa. Vũ Vương xuất binh phạt Trụ gặp mưa, có người cho là không lợi, nhưng Vũ Vương nói Trời giúp rửa binh khí, có thể xuất chinh. “Tẩy binh” cũng có nghĩa là rửa binh khí để cất đi, ý nói đình chiến. Lúc này Đặng Dung đang đem quân đánh quân xâm lược Minh tham tàn, bạo ngược, chưa phải lúc đình chiến, cho nên chỉ hiểu theo nghĩa thứ nhất. Nhiều sách giải thích câu thơ này là muốn đem lại hoà bình cho đất nước mà không được, e không hợp. Bởi vì tại câu kết bài thơ tác giả vẫn mài gươm dưới trăng để đánh giặc, chứ đâu phải để cất gươm vào kho! Cho nên câu này nên hiểu: Không có cách gì kéo sông Ngân hà xuống để rửa giáp binh mà làm cuộc xuất chinh.

   Mặc dù hình ảnh “kéo sông thiên hà” là lấy từ bài Tẩy binh mã của Đỗ Phủ, nhằm rửa binh khí để cất đi không dùng nữa, nhưng ở đây Đặng Dung đã vận dụng sáng tạo thể hiện ý rửa binh khí để ra trận.

   Hai câu trong bài Tẩy binh mã của Đỗ Phủ:

An đắc tráng sĩ vãn thiên hà,

Tận tẩy giáp binh trường bất dụng.

(ước gì có tráng sĩ kéo nước sông Ngân xuống,

Rửa sạch khí giới, mãi mãi không dùng nữa)

4. Mặc dù trong tình thế bi kịch, thế sự bời bời, bản thân lại chưa tìm được hướng đi, song đến cuối bài thơ, tác giả đã thể hiện chí khí quật cường và tinh thần kiên trì chiến đấu:

Quốc thù chưa trả già sao vội,

Dưới nguyệt mài gươm đã bấy chầy.

   Hình ảnh vị tướng đầu bạc với mối thù nước đau đáu trong lòng, nung nấu mài kiếm dưới trăng bao phen là hình ảnh mang vẻ đẹp bi hùng, giàu tính biểu tượng. Vẫn không ra ngoài cảm giác bi kịch, trong khi mối thù nước chưa trả đang thôi thúc thì tuổi đã cao, sức lực không còn sung mãn, tâm ấy với lực ấy trong một con người sinh ra bi kịch, nhưng cũng tâm ấy lực ấy mà toát lên vẻ đẹp của chí khí, sự bền bỉ, nhiệt huyết anh hùng, vẻ sáng láng của kẻ lỡ vận, âm thầm mà tâm tráng.

5. Anh hùng có làm nên sự nghiệp lớn hay không còn tuỳ thuộc vào thời vận. Đó là quan niệm của người xưa về thành bại của những kẻ có tài năng và chí khí hơn người. Anh hùng có thể xoay chuyển thời thế, nhưng thời thế cũng tạo nên anh hùng. Lỡ vận nên thất bại là mối hận của nhiều bậc anh hùng bao đời. Đặng Dung viết “Vận khứ anh hùng ẩm hận đa” cũng là tỏ lòng mình, một bậc anh hùng lỡ vận đành ôm hận trong lòng.

   Với những hình ảnh có sức diễn tả mạnh mẽ tình cảm, khát vọng, bài thơ Nỗi lòng thể hiện tấn kịch bi tráng của người anh hùng.

III - Liên hệ

   Cảm hoài là nhan đề thường gặp trong thơ cổ dùng để biểu lộ cảm xúc, hoài bão. Cảm hoài là có cảm xúc trong lòng, tức nỗi lòng. Trong Tây sương kí có câu : “Tri âm giả phương tâm tự đổng, cảm hoài giả đoạn trường bi thống”, nghĩa là “Kẻ tri âm lòng thơm tự hiểu, kẻ cảm hoài đứt ruột xót đau”. Do vậy thi đề cảm hoài thường nói việc oán hận, bi thương. Bài thơ này làm vào lúc Đặng Dung ra sức tận tụy phù rập nhà Trần, đánh giặc cứu nước, nhưng vận nhà Trần đã tàn, cơ đồ đang đổ, khó lòng xoay chuyển. Cảm hoài là một bài thơ giãi bày gan ruột.

Loigiaihay.com

Soạn bài Cảnh ngày hè Soạn bài Cảnh ngày hè

Soạn bài Cảnh ngày hè trang 117 SGK Ngữ văn 10. Câu 3. Nhà thơ đã cảm nhận cảnh vật bằng những giác quan nào? Qua sự cảm nhận ấy, anh (chị) thấy nhà thơ có tấm lòng như thế nào đốii với thiên nhiên.

Xem chi tiết
Đọc hiểu Cảnh ngày hè Đọc hiểu Cảnh ngày hè

1. Tác giả Nguyễn Trãi có những đóng góp rất lớn đối với lịch sử văn hóa, văn học, đặc biệt là đóng góp về thơ văn. Nguyễn Trãi để lại nhiều bài thơ Nôm có giá trị. Thơ của ông thể hiện một tấm lòng suốt đời vì dân vì nước, một nhân cách cao đẹp, một tâm hồn trong sáng, luôn dành cho con người và thiên nhiên một tình cảm tha thiết.

Xem chi tiết
Phân tích bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi (Bài 2) Phân tích bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi (Bài 2)

Toàn thi phẩm là tâm tình nồng hậu của ức Trai trước cảnh tượng hưng thịnh của ngày hè

Xem chi tiết
Suy nghĩ về bài thơ  Bảo kính cảnh giới 43 của Nguyễn Trãi Suy nghĩ về bài thơ Bảo kính cảnh giới 43 của Nguyễn Trãi

Bài thơ là tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước đằm thắm,chân thành, hồn hậu của Nguyễn Trãi qua đó cũng bộc lộ nỗi niềm yêu nước thương dân,một lòng hướng về nước, về nhân dân của nhà thơ.

Xem chi tiết
Tư tưởng nhân nghĩa ở Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi Tư tưởng nhân nghĩa ở Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi

Bình Ngô đại cáo xét về mặt tư tưởng thì đây là tác phẩm nổi bật về chù nghĩa nhân đạo, minh chứng hùng hồn cho cuộc chiến thắng của nhân dân ta chống giặc Minh

Xem chi tiết
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân  Quân điếu phạt trước lo trừ bạo” Phân tích bài “Bình Ngô đại cáo” để làm sáng tỏ tư tưởng trên của Nguyễn Trãi “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo” Phân tích bài “Bình Ngô đại cáo” để làm sáng tỏ tư tưởng trên của Nguyễn Trãi

Thông qua bài Bình Ngô đại cáo. Nguyễn Trãi khẳng định chắc chắn rằng tư tưởng nhân nghĩa chính là cội nguồn hiển hách trong lịch sử giữ nước suốt mấy ngàn năm

Xem chi tiết
Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi  là “Thiên cổ hùng văn”. Hãy phân tích nhận định trên và phân tích tác phẩm để làm sáng rõ nhận định đó Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi là “Thiên cổ hùng văn”. Hãy phân tích nhận định trên và phân tích tác phẩm để làm sáng rõ nhận định đó

Bài cáo đã ghi lại một thời kì đau thương mà oanh liệt của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống quân Minh với những chiến thuật hết sức đúng đắn và sáng tạo làm cho quân thù phải khiếp sợ, đẩy chúng đến sự thất bại toàn diện và nhục nhã.

Xem chi tiết
Một cây làm chẳng nên non, Ba cây chụm lại nên hòn núi cao. Hãy chứng minh nội dung câu tục ngữ bằng những dẫn chứng rút ra từ lịch sử bảo vệ và xây dựng Tổ quốc của nhân dân ta. Một cây làm chẳng nên non, Ba cây chụm lại nên hòn núi cao. Hãy chứng minh nội dung câu tục ngữ bằng những dẫn chứng rút ra từ lịch sử bảo vệ và xây dựng Tổ quốc của nhân dân ta.

Đoàn kết tạo ra sức mạnh, giúp ta làm nên những công việc lớn lao. Thực tế cuộc sống chiến đấu và lao động của dân tộc ta từ xưa đến nay đã chứng minh hùng hồn điều đó. Đất nước Việt Nam có được như ngày hôm nay là do đâu? Non sông Việt Nam ta đẹp đẽ như ngày hôm nay là nhờ đầu? Phải chăng chính là nhờ tinh thần đoàn kết tương trợ, thương yêu đùm bọc lẫn nhau của nhân dân ta từ Nam chí Bắc, mấy chục triệu người chung một lòng,

Xem chi tiết

>>Học trực tuyến Lớp 10 trên Tuyensinh247.com, mọi lúc, mọi nơi tất cả các môn. Các thầy cô giỏi nổi tiếng, dạy hay dễ hiểu

Góp ý Loigiaihay.com, nhận quà liền tay