Soạn: Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy trang 39 SGK Ngữ văn 10


Tình cảm, thái độ của nhân dân qua chi tiết máu của Mi Châu hoá thành ngọc trai, xác nàng hoá thành ngọc thạch. Người xưa muốn bày tỏ thái độ, tình cảm như thế nào đối với nhân vật và nhắn gửi điều gì đối với thế hệ trẻ muôn đời sau.

KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Yêu cầu chung:

- Nắm được đặc trưng cơ bản của truyền thuyết. Truyện kể lại sự kiện lịch sử đời trước và giải thích nguyên nhân theo cách nghĩ, cách cảm nhận của người đời sau: Bi kịch nước mất nhà tan và bi kịch tình yêu tan vỡ.

-Nhận thức được bài học kinh nghiệm giữ nước ẩn sau câu chuyện tình yêu, tinh thần cảnh giác với kẻ thù xâm lược, cách xử lí đúng đắn môi quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, giữa hạnh phúc tình yêu tuổi trẻ với vận mệnh của dân tộc, của đất nước.

- Nắm được đặc điểm nghệ thuật của tác phẩm và của thể loại truyền thuyết, sự kết hợp nhuần nhuyễn yếu tố  lịch sử với yếu tố tưởng tượng kì ảo, hư cấu nghệ thuật dân gian.

2. Về thể loại truyền thuyết

- Là loại truyện dân gian kể về sự kiện có ảnh hưởng lớn lao đến lịch sử của dân tộc truyền thống không phải là lịch sử mà chỉ liên quan tới lịch sử, phản ánh lịch sử. Những câu chuyện trong lịch sử được khúc xạ qua lời kể của nhiều thế hệ, kết tinh thành những hình tượng nghệ thuật độc đáo nhuốm màu sắc thần kì mà vẫn thấm đậm cảm xúc đòi thường.

- Muốn hiểu đúng, hiểu sâu truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thuỷ trên hai lĩnh vực nội dung và nghệ thuật cần đặt truyện trong mối quan hệ với lịch sử đòi sống.

- Nội dung thứ hai của phần tiểu dẫn là giới thiệu làng cổ Loa - Đông Anh, Hà Nội là quần thể di tích văn hoá lâu đời chứng minh cho truyền thuyết An Dương Vương xây thành chế nỏ. Còn môi tình Mị Châu - Trọng Thuỷ là nguyên nhân dẫn đến cơ đồ đắm biển sâu của nhà nước Âu Lạc cuối thế kỉ thứ III trước Công Nguyên.

3. Về văn bản

a. Vị trí

Trích “Rùa vàng” trong tác phẩm “Lĩnh Nam chích quái” - Những câu chuyện ma quái ở phương Nam.

b. Bố cục

Truyền thuyết chia làm ba đoạn:

- Đoạn 1: Từ đầu đến “bèn xin hoà”: An Dương Vương xây thành chế nỏ bảo vệ vững chắc đất nước.

- Đoạn 2: Tiếp đó đến “Dẫn vua xuống biển” cảnh mất nước nhà tan.

- Đoạn 3: Còn lại: Mượn hình ảnh ngọc trai nước giếng để thể hiện thái độ của tác giả dân gian đối với Mị Châu.

c. Chủ đề

Miêu tả quá trình xây thành, chế nỏ bảo vệ đất nước của An Dương Vương và bi kịch nhà tan nước mất. Đồng thời thể hiện thái độ của tác giả dân gian đối với từng nhân vật.

HƯỚNG DẨN TRẢ LỜI CÂU HỎI

Câu 1. Đọc kĩ cốt truyên và phân tích theo các câu hỏi

a. Do đâu mà An Dương Vương được thần linh giúp đỡ? Kể về sự giúp đỡ thần kì đó. Dân gian muốn thể hiện thái độ đánh giá như thế nào về nhà vua?

- An Dương Vương xây Loa thành, chế tạo lẫy nỏ để bảo vệ đất nước, đó là việc làm chính đáng, đúng với trách nhiệm của một ông vua đối với đất nước, công việc đó cũng hợp với nguyện vọng của nhân dân, do đó, An Dương Vương được thần Kim Quy (Rùa Vàng) giúp đỡ (Rùa Vàng là hình tượng thần linh, phản ánh nguyện vọng của nhân dân).

- Kể lại các chi tiết Rùa Vàng giúp đỡ An Dương Vương: HS dựa theo truyện để kể lại. Chú ý có ba chi tiết: Rùa Vàng giúp An Dương Vương xây loa thành: giúp làm lẫy nỏ; và cuối cùng đưa nhà vua xuống Thuỷ Cung.

- Yếu tố thần kì thể hiện đánh giá của nhân dân: Nhân dân đề cao công lao của An Dương Vương trong giai đoạn đầu của công cuộc dựng nước và giữ nước.

b. Sự mất cảnh giác của nhà vua biểu hiện qua các chi tiết

- Không bao lâu (sau khi thua trận), Triệu Đà cầu hôn, An Dương Vương vô tình gả con gái là Mị Châu cho con trai Triệu Đà là Trọng Thuỷ.

- cả An Dương Vương và Mị Châu tiếp tục mất cảnh giác để Trọng Thuỷ biết được bí mật nỏ thần.

- Trọng Thuỷ ngầm lấy một cái lẫy nỏ khác, thay vuốt Rùa Vàng mà vua và Mị Châu không hề hay biết.

- Trọng Thuỷ nói dối là về phương Bắc thăm cha, trong lời dặn dò đã để lộ rõ âm mưu, nhưng vua và Mị Châu vẫn mất cảnh giác.

- Triệu Đà cho quân tiến đánh, An Dương Vương lại chủ quan khinh địch, cậy có nỏ thần nên thất bại bỏ chạy.

- Mị Châu tiếp tục mất cảnh giác, rứt lông ngỗng trong áo gấm làm dấu khiến Trọng Thuỷ theo dấu lông ngỗng đuổi theo. Vua chạy đến bờ biển cùng đường.

c. Sáng tạo những chi tiết về Rùa Vàng, Mị Châu, nhà vua tự tay chém đầu con gái,... nhân dân muốn biểu lộ tình cảm gì?

- Đối vói nhà vua - người đứng đầu đất nước - đã đứng trên quyền lợi của nhân dân để trừng trị kẻ có tội, cho dù kẻ đó là đứa con lá ngọc cành vàng của mình. Đây là sự lựa chọn một cách quyết liệt, một bên là nghĩa nước một bên là tình cha con. An Dương Vương đã để cái chung trên cái riêng

- Người có công dựng nước và trong giờ phút quyết liệt vẫn đặt nghĩa nưóc trên tình nhà. Vì vậy trong lòng nhân dân, An Dương Vương không chết, cầm sừng tê bảy tấc theo Rùa Vàng rẽ nước về thuỷ phủ bước vào thê giới vĩnh cửu của thần linh

- Song so với hình ảnh Thánh Gióng về tròi thì An Dương Vương không rực rỡ hoành tráng bởi An Dương Vương đã để mất nước. Một người ta phải ngước mắt lên, một người phải cuổi xuống thăm thẳm mới nhìn thấy. Đấy cũng là thái độ của tác giả dân gian dành riêng cho mỗi nhân vật

Câu 2. Trình bày ý kiến về hai cách đánh giá đối với nhân vât Mi Châu (mục 2, SGK, trang 43)

Quan niệm 1: Mị Châu thuận theo tình cảm vợ chồng mà quên nghĩa vụ đối với đất nước. Đây là quan niệm đúng. Có thể trách cứ Mị Châu ở tinh thần cảnh giác và trách nhiệm đối với quốc gia xã tắc, chưa được nàng xử lí đúng mức.  Nỏ thần tội đối với vua cha, với đất nước. Nàng đã tiết lộ bí mật quốc gia. Tội chém đầu là phải, không oan ức gì. Đành rằng tình cảm vợ chồng gắn bó, tuy hai nhưng là một cũng không thể vượt lên trên tình cảm đất nước. Nước mất dẫn đến nhà tan, không ai có thể bảo toàn hạnh phúc. Việc làm của Mị Châu là một bài học đắt giá. Lông ngỗng có thể rắc cùng đường, nhưng Trọng Thuỷ cũng không thể cứu được Mị Châu.

Tuy nhiên, cần hiểu tính lịch sử của vấn đề: qua câu chuyện đó, có thể thấy, vào thời bấy giờ, cả An Dương Vương lẫn Mị Châu chưa có được những kiến thức về chiến tranh gián điệp nên chưa có tinh thần cảnh giác một cách đầy đủ.

Quan niệm 2: Mị Châu làm theo ý chồng là lẽ tự nhiên, hợp lí, nàng không có tội. Quan niệm này có y quy trách nhiệm chính cho An Dương Vương trong bị kịch mất nước. Cách quy trách nhiệm đó là đúng, nhưng đánh giá về Mị Châu như vậy cũng chưa chính xác.

Tuy là phận gái, lấy chồng phải theo chồng, nhưng đồng thời nàng cũng phải có nghĩa vụ với quốc gia, xã tắc, nhất là phải có lòng trung với vua, có hiếu với cha... (theo quan niệm phong kiến). Có thể thấy, tất cả những phạm trù đạo đức này chưa có ở Mị Châu.

Câu 3. Tình cảm, thái độ của nhân dân qua chi tiết máu của Mi Châu hoá thành ngọc trai, xác nàng hoá thành ngọc thạch. Người xưa muốn bày tỏ thái độ, tình cảm như thê nào đôi với nhản vật và nhắn gửi điều gì đối với thế hệ trẻ muôn đời sau.

- Đây là chỉ là một chút an ủi cho Mị Châu. Chi tiết ngọc trai thể hiện sự thương cảm, nhân dân muôn giải bớt nỗi oan tình cho Mị Châu - Người con gái ngây thơ, trong trắng, vô tình mà đắc tội vối non sông chứ nàng không phải là người chủ ý hại vua cha. Nàng thực sự bị “người lừa dôĩ”.

- Qua đây ông cha ta muốn nhắn nhủ tới thê hệ trẻ mai sau trong quan hệ tình cảm phải luôn luôn đặt quan hệ riêng chung cho đúng mực. Đừng nặng về tình riêng mà quên cái chung, phải biết hy sinh tình cảm riêng để giữ cho trọn vẹn nghĩa vụ và trách nhiệm của mình. Đó là một bài học cảnh giác sâu sắc.

Câu 4. Anh (chị) hiểu như thế nào về hình ảnh ngọc trai - giếng nước và cách đánh giá của nhân dân đối với Trọng Thuỷ?

Nhân vật Việt Nam rất rộng lượng và tỉnh táo, công bằng trong việc đánh giá các nhân vật. Trọng Thuỷ là một nhân vật có mâu thuẫn: với tư cách là một tên gián điệp, một kẻ bội tình, hắn xứng đáng bị lên án: song nhân dân Việt Nam vẫn thương cảm vì thấy Thuỷ cũng có tình, nhất là sau khi Trọng Thuỷ nhảy xuôrig giếng tự vẫn vì thương nhớ Mị Châu. Vì vậy chi tiết: “Ngọc trai biển đông (thể hiện lòng trung thành, trong sáng của Mị Châu) đem về rửa vào giếng nước Trọng Thuỷ thi ngọc trai sẽ sáng lên” đã cho thấy cách đánh giá của nhân dân muôn phần nào cảm thương và tha thứ cho Trọng Thuỷ với tư cách là một chàng rể có tình người.

Câu 5. Cho biết đâu là cốt lõi lịch sử của truyện? cốt lõi lịch sử đó đã được nhân dân ta thần kì hoá như thế nào?

- Cốt lõi lịch sử của câu chuyện này là: Vua Thục Phán An Dương Vương xây dựng thành cổ Loa, tổ chức quân đội đánh giặc giỏi, chế tạo được vũ khí tinh xảo khiến cho quân giặc bị thất bại nhiều phen. Nhưng sau đó, nhà vua mất cảnh giác, bị mắc kế giảng hoà, vờ làm thông gia của Triệu Đà nên đã thất bại. Đất nước Âu Lạc rơi vào cảnh bi kịch.

- Từ cốt lõi thực tê có tính sự thật lịch sử, nhân dân ta đã thần kì hoá bằng các hình tượng:

+ Rùa Vàng (tự xưng là sứ Thanh Giang) giúp nhà vua xây thành, làm lẫy nỏ để đánh giặc giữ nước.                                                                                   + Khi thất trận, chạy đến đường cùng, An Dương Vương lại được Rùa Vàng rẽ nước đưa xuống biển.

+ Máu Mị Châu hoá thành ngọc trai, ngọc trai biển đông rửa bằng nước giếng Trọng Thuỷ thì sáng hơn lên.

Câu 6. Trình bày ý kiến hai cách đánh giá Trong Thuỷ (SGK trang 43)

- Trọng Thuỷ là gián điệp. Tình cảm với Mị Châu là giả dối. Cách đánh giá như vậy là không hoàn toàn đúng, vì nếu không có tình cảm gì với Mị Châu thì Trọng Thuỷ đã không tự tử.

- Trọng Thuỷ - Mị Châu là mối tình tuyệt đẹp và nhân dân đã ca ngợi tình cảm thuỷ chung, trong sáng đó qua chi tiết ngọc trai - giếng nước. Quan niệm này cũng có phần không đúng, vì xuất phát điểm của quan hệ Trọng Thuỷ - Mị Châu là sự lợi dụng để làm gián điệp. Mối tình như vậy ít có cơ sở để ca ngợi.

- Căn cứ vào chi tiết: Trọng Thuỷ thương nhớ Mị Châu khôn cùng, khi đi tâm tưởng thấy bóng dáng nàng, bồn nhảy xuống giếng mà chết. Đây là tấn bi kịch tình yêu của nhân vật Trọng Thuỷ, ta thấy Trọng Thuỷ là nhân vật có mâu thuẫn. Với nước Âu Lạc, Trọng Thuỷ là tên gián điệp lợi hại, là kẻ đã lợi dụng tình yêu để đánh cắp bí mật của An Dương Vương, đã phản bội tình yêu trong sáng và thuỷ chung của Mị Châu. Song, chi tiết trên cho thấy Trọng Thuỷ vẫn là kẻ có tình, nên đã tiếc thương vợ khôn cùng mà tự tử.

- Thái độ của nhân gian đối với Trọng Thuỷ: vừa oán giận, vừa độ lượng thương xót. Oán giận vì Trọng Thuỷ là kẻ gián điệp, là kẻ thù của quốc gia Âu Lạc, lợi dụng tình yêu để lấy cắp nỏ thần, thương xót vì Trọng Thuỷ cũng là con người có tình cảm, là kẻ phải gánh chịu bi kịch giữa nghĩa vụ và tình yêu.

- Tư liệu tham khảo đoạn thơ nổi tiếng của Tố Hữu:

“Tôi kể ngày xưa chuyện Mị Châu

Trái tim lầm chỗ để trên đầu

Nỏ thần vô ý trao tay giặc

Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu.”










>>Học trực tuyến lớp 10, mọi lúc, mọi nơi cùng các thầy cô giỏi nổi tiếng, dạy hay dễ hiểu