Soạn bài Tràng giang, trang 28 SGK Văn 11


Âm hưởng chung của bài thơ là âm điệu buồn, vừa dư vang vừa sâu lắng. Đó là nỗi buồn sầu ngấm sâu trong lòng tạo vật và trong tâm hồn nhà thơ.

GỢI Ý LÀM BÀI

1. Lời đề từ

Đề từ tuy nằm ngoài văn bản tác phẩm, nhưng lại tập trung thể hiện nội dung tư tưởng và ý đồ nghệ thuật của tác giả. Câu thơ đề từ của bài thơ này: "Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài" là một ví dụ tiêu biểu. Lời đề từ ngắn nhưng đã thể hiện được một phần quan trọng hồn cốt của tác phẩm, nói cụ thể hơn, đây chính là nỗi buồn (bâng khuâng là có những cảm xúc ngỡ ngàng, luyến tiếc, nhớ thương đan xen nhau) trước cảnh vũ trụ bao la, bát ngát (trời rộng, sông dài).

Có thể nói, Tràng giang đã triển khai một cách tập trung cảm hứng nếu ở câu thơ đề từ.

2. Âm điệu của bài thơ

Âm hưởng chung của bài thơ là âm điệu buồn, vừa dư vang vừa sâu lắng. Đó là nỗi buồn sầu ngấm sâu trong lòng tạo vật và trong tâm hồn nhà thơ. Âm điệu đó còn được tạo nên bởi nhịp điệu và thanh điệu của thể thơ thất ngôn. Nhịp thơ chủ yếu của bài là nhịp 2/2/3, đôi chỗ là 4/3 hoặc 2/5. Nhịp thơ đều, chậm gợi nỗi buồn sầu mênh mang.

Việc sử dụng nhiều từ láy hoàn toàn với sự lặp lại đều đặn tạo âm hưởng trôi chảy triền miên cùng nỗi buồn vô tận trong cảnh vật và hồn người.

3. Bức tranh thiên nhiên

a. Bài thơ tạo dựng được một bức tranh thiên nhiên cổ kính, hoang sơ với tầm vóc mênh mang vô biên, đậm chất Đường thi. Chất liệu để tạo nên bức tranh đó là hộ thống các hình ảnh ước lệ thường được sử dụng trong thơ cổ. Tràng giang; thuyền về, nước lại, nắng xuống, trời lên, sônẹ dài, trời rộng; mây đùn núi bạc; bóng chiều; vời con nước; khói hoàng hôn,... Bức tranh ấy hiện dần lên qua các khổ thơ, càng lúc càng thêm đậm màu cổ điển.

Bài thơ có tựa đề là Tràng giang, câu thơ đầu tiên nhắc lại tựa đề (Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp). "Tràng giang" chứ không phải "trường giang" mặc dù hai từ đều có chung một nghĩa. Nhờ cách điệp vần "ang", "tràng giang" góp phần tạo nên dư âm vang xa, trầm buồn của câu thơ mở đầu, tạo nên âm hưởng chung cho giọng điệu của cả bài thơ, đặc biệt nó khơi gợi được xúc cảm và ấn tượng về một nỗi buồn triền miên kéo dài theo không gian.

b. Huy Cận cũng như phần đông các thi sĩ trong phong trào Thơ mới đều chịu ảnh hưởng khá rõ của thơ tượng trưrm phương Tây thế kí XX. Tuy vậy, Huy Cận còn là người rất thích-thơ Đường và trân trọng vốn thi ca dân tộc. Trong sáng tác của ông, người ta dễ dàng cảm nhận được dấu ấn Đường thi, cũng như thơ tượng trưng Pháp. Có điều đáng chú ý là chúng đã được Việt hoá, nói cho đúng hơn là đã được Huy Cận hoá một cách nhuần nhị.

Nghệ thuật đối, dù đã được vận dụng uyển chuyển, linh hoạt, không khuôn sáo, cứng nhắc nhưng vẫn giúp tạo ra không khí trang trọng và sự cân xứng, nhịp nhàng cho thơ. Bên cạnh đó, nghệ thuật dùng từ láy như "điệp điệp", "sons song",... cũne có hiệu quả nhất định gợi âm hưởng cổ kính.

Trong khổ thơ thứ hai, chính Huy Cận đã thừa nhận: ở trong câu "Lư thơ cồn nhỏ gió đìu hiu", ône đã học chữ "đìu hiu" trong bản dịch Chinh phụ ngâm (Non Kì quạnh quẽ trăng treo - Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò). Hơn thế, các hình ảnh đối lập, hình ảnh "chợ chiều vãn" gợi cái buồn da diết, không gian vắng lặng, cô tịch rất cổ điển.

Ở khổ thơ thứ ba và khổ cuối đều có thể tìm thấy những nét gợi nên hình ảnh bức tranh thiên nhiên thường gặp trong thơ xưaế Bài thơ có ý vị cổ điển, tạo được những âm hưởng kì lạ do tác giả chọn được thể thơ thích hợp, vận dụng tự nhiên lối đối, sử dụng có hiệu quả với tần số cao hệ thống từ láy (10 lần trong 16 dòng thơ) và cách ngắt nhịp truyền thống. Chất cổ điển của bài thơ đặc biệt rõ ở câu thơ cuối Thôi Hiệu nhìn khói sóng mà nhớ đến quê hương - Hoàng Hạc làu, Huy Cận không cần có khói sóng - tức không cần cái gợi nhớ - mà lònơ vẫn dợn dợn nhớ nhà. Rõ ràns nỗi nhớ của Huy Cận da diết hơn, thường trực hơn và cháy bỏng hơn.

Cổ kính, trang nghiêm, đậm chất Đường thi, nhưng Tràng giang vẫn là một bài thơ rất Việt Nam, rất gần gũi và thân thuộc. Dòng sông sóng lượn, con thuyền xuôi mái chèo, cành củi khô bồng bềnh, cánh bèo lênh đênh, chợ chiều của làng quê, cánh chim trong buổi chiều tà,... Tất cả thật gần gũi với mỗi người Việt chúng ta. Đọc bài thơ này có người nhớ đến cái làng vùng sơn cước heo hút bẽn bờ sông Thâm, tỉnh Hà Tĩnh - nơi chôn nhau cắt rốn của Huy Cận.

Sự hoà quyện của hai hệ thống hình ảnh vừa cổ điển vừa gần gũi, thân thuộc nêu trên tạo nên cho bài thơ một vẻ đẹp độc đáo: đơn sơ mà tinh tế, cổ điển mà quen thuộc.

4. Tình yêu thiên nhiên và tình yêu nước

Trước Huy Cận, đã có không ít các nghệ sĩ bày tỏ lòng yêu nước một cách xa xôi, bóng gió qua thơ văn. Có thể kể đến Gánh nước đêm của Trần Tuấn Khải, Thề non nước của Tản Đà, Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân,... Trước Tràng ỳang, Huy Cận cũng đã từng viết về nỗi buồn sống núi - nỗi buồn của người dân thuộc địa khi giang sơn bị mất chủ quyển. Ở bài thơ này, nỗi buồn sâu xa ấy đã hoà vào nỗi bơ vơ trước tạo vật thiên nhiên hoang vắng và niềm thiết tha với thiên nhiên tạo vật ở đây cũng là niềm thiết tha với quê hương đất nước.

Và thực tế thì, xét ở một phương diện nào đó, Tràng giang đúng là một bài thơ "ca hát non sông đất nước; do đó dọn đường cho lòng yêu giang sơn Tổ quốc" (Xuân Diệu).

5. Đặc sắc nghệ thuật của bài thơ

Tràng giang có nhiều nét đặc sắc về nghệ thuật

-    Thể thơ thất ngôn trang nghiêm, cổ kính với cách ngắt nhịp quen thuộc (4/3) tạo nên sự cân đối, hài hoà. Thủ pháp tương phản được sử dụng triệt để: hữu hạn / vô hạn; nhỏ bé / lớn lao; không / có,...

Sử dụng thành công các loại từ láy: láy vần (tràng giang, đìu hiu, chót vót, lơ tliơ,...), láy hoàn toàn (điệp diệp, song song, lớp lớp, dợn dợn,...). Các biện pháp tu từ: nhân hoá, ẩn dụ, so sánh,..

>>Học trực tuyến lớp 11, mọi lúc, mọi nơi tất cả các môn. Các thầy cô giỏi nổi tiếng, dạy hay dễ hiểu