Imanuen Cantơ (1724 -1804)


Imanuen Cantơ (Imanuel Kant) là một trong những nhà triết học vĩ đại nhất của lịch sử tư tưởng phương Tây trước C.Mác. Triết học Cantơ "là nền tảng và điểm xuất phát của triết học Đức hiện đại, những hạn chế trong triết học của ông không làm lu mờ công lao đó của triết học Cantơ”’.

Imanuen Cantơ (Imanuel Kant) là một trong những nhà triết học vĩ đại nhất của lịch sử tư tưởng phương Tây trước C.Mác. Triết học Cantơ "là nền tảng và điểm xuất phát của triết học Đức hiện đại, những hạn chế trong triết học của ông không làm lu mờ công lao đó của triết học Cantơ”’.

Cantơ sinh năm 1724, trong một gia đình quý tộc Phổ ở Kenixbéc. Đến năm 1755, ông bắt đầu giảng dạy siêu hình học, và các môn học tự nhiên ở đây. Từ năm 1770, ông chủ yếu quan tâm đên những vấn đề triết học với những tác phẩm chủ yếu như Phê phán lý tính thuần tuý (1781), Phê phán lý tính thực tiễn (1788), Phê phán khả năng suy diễn (1790) V.V.. Hầu như phần lớn các công trình nghiên cứu của ông đều gắn liền với việc giảng dạy của ông ở trường đại học Tổng hợp Kenixbéc từ năm 1755 đến cuối đời.

Thế giới quan của Cantơ phát triển qua hai thời kỳ chính, mặc dù giữa chúng có sự thống nhất nhất định. Ở “thời kỳ tiền phê phán” (1746 - 1770), Cantơ chủ yếu nghiên cứu các vấn đề toán học và khoa học tự nhiên với nhiều phát minh nổi tiếng về các lĩnh vực này. Từ năm 1770 trở đi, bắt đầu "thời kỳ phê phán", là thời kỳ ông có nhiều đóng góp to lớn cho kho tàng triết học cổ điển Đức và triết học thế giới nói chung. Như Hêghen đã nhận xét, triết học của Cantơ rất phức tạp và khó hiểu. Vì vậy, để tiện cho việc nghiên cứu, chúng ta đi sâu phân tích từng thời kỳ.

a, Thời kỳ tiền phê phán

Lúc đầu, chịu ảnh hưởng lớn của các quan niệm duy tâm và thần học của Lépnít và Vônphơ, về sau, dần dần ông đứng về phía các quan niệm duy vật máy móc của Niutơn và Đềcáctơ rồi

đi đến xây dựng thế giới quan độc lập của mình. Vì vậy bên cạnh nhiều quan niệm duy tâm thần bí, về cơ bản, Cantơ thể hiện như một nhà duy vật khoa học tự nhiên với luận điểm chủ yếu: “hãy cho tôi vật chất, tôi sẽ xây đựng thế giới từ nó, nghĩa là, hãy cho tôi vật chất, tôi sẽ chỉ cho các anh thấy, thế giới phải ra đời từ vật chất như thế nào”. Thế giới chúng ta, theo Cantơ được cấu từ vật chất luôn vận động và biến đổi không ngừng, mọi sự vật đều liên hệ tương tác lẫn nhau thông qua lực hút và lực đẩy.

Khái quát định luật vạn vật hấp dẫn của Niuton, Cantơ khẳng định cần phải “hiểu toàn bộ giới tự nhiên trong toàn bộ tính vô cùng tận của nó như một hệ thống duy nhất”. Thế giới hiện nay là kết quả của quá trình lịch sử phát triển lâu dài theo hướng ngày càng hoàn thiện của tự nhiên. Vì thế, cần “định liệu có phải trái đất đang ngày càng già đi không, và phải chăng nó đang dần dần đi đến diệt vong vì nó đang ngày càng già đi ... hay cho đến nay nó vẫn chưa qua khỏi lứa tuổi trẻ thơ”.

Từ những công trình nghiên cứu về trái đất và đại dương, Cantơ là người đầu tiên đã khám phá ra ảnh hưởng của lực hấp dẫn giữa trái đất và mặt trăng với các hiện tượng thuỷ triều.

Ông cho rằng, không chỉ mọi sự vật trong thế giới chúng ta, mà cả toàn bộ vũ trụ nói chung đều nằm trong quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong như một quy luật sắt đá của tự nhiên. Từ đây, dù không bác bỏ những mặt hợp lý của vũ trụ học Đềcáctơ, nhưng ông xây dựng giả thuyết vân tinh học. Trong tác phấm Lịch sử tự nhiên đại cương và thuyết bầu trời (1755), ông lý giải và nguồn gốc sự hình thành vũ trụ.

Tất cả các hành tinh, và các vũ trụ chúng ta không phải ngay từ đầu đã có được trạng thái tồn tại như hiện nay. Từ thời xa xưa nhất, cả thế giới chúng ta đều nằm ở trạng thái hỗn hợp. Nhờ lực vạn vật hấp dẫn, các hạt vật chất khuếch tán khắp không gian đã dần tụ lại thành những đám mây lớn. Thông qua lực hút và lực đẩy trong lòng các đám mây đó xuất hiện các luồng gió xoáy làm cho các hạt vật kết đông lại theo hình cầu. Do ma sát khi va chạm nên chúng bị nóng. Vì lực hút chiếm ưu thế hơn nên các hạt vật chất kết hợp lại với nhau tạo thành mặt trời và các hành tinh có độ nóng khác nhau tuỳ thuộc mức độ ma sát. Nhưng, vì khoảng không vũ trụ quá lớn và do ảnh hưởng của lực đẩy, nên lực hấp dẫn không đủ sức hút tất cả lượng vật chất của vũ trụ thành một khối, mà tồn tại nhiều hành tinh độc lập với nhau. Do lực hấp dẫn tỷ lệ thuận với khối lượng, cho nên những hành tinh ở gần mặt trời thì nặng hơn so với các hành tinh ở xa, và nhân của các hành tinh thì nặng hơn so với các lớp vỏ của chúng. Vũ trụ là một chính thể thống nhất, cho nên “nó sẽ tạo ra những thế giới mới để bù đắp những tổn thất mà nó gánh chịu ở một nơi nào đó”.

Mặc dù tiến bộ hơn hẳn các giả thuyết vũ trụ trước đây, nhưng thuyết của Cantơ vần chưa lý giải được nhiều hiện tượng thiên văn học do còn thiếu nhiều cứ liệu khoa học cụ thể. Vì vậy, nửa thế kỷ sau, nhà bác học Láplát đã đưa ra giả thuyết mới độc lập về sự hình thành vũ trụ nhưng vô hình chung vẫn tiếp thu nhiều điểm hợp lý của giả thuyết Cantơ, bơi vậy người ta thường gọi là thuyết Cantơ - Láplát.

Ý nghiã cách mạng của thuyết trên không chỉ ở chỗ nó chứa đựng nhiều tư tưởng duy vật và hoàn chỉnh so với các giả thuyết vũ trụ trước đó, mà còn ở chỗ nó đem lại một cách nhìn mới - cách nhìn phát triển lịch sử về thế giới. Nó khẳng định không chỉ trái đất, mà cả vụ trụ chúng ta là kết quả của toàn bộ quá trình phát triển và tiến hoá lâu dài của vũ trụ, đánh tan quan niệm siêu hình thống trị thời đó cho rằng, một khi thế giới chúng ta đã tồn tại thì nó vẫn cứ mãi mãi như thế từ xưa đến nay. Nhờ vậy, “vấn đề cái hích đầu tiên đã bị loại bỏ; trái đất và tất cả hệ thống mặt trời hiện ra như là một cái gì đã hình thành trong thời gian”. Với giả thuyết này, Cantơ bước đầu đã xây dựng nền tảng cho quan niệm phát triển biện chứng về tự nhiên.

Bên cạnh những quan niệm sâu sắc trên đây, ở "thời kỳ tiền phê phán”, chúng ta cũng nhận thấy sự bế tắc của Cantơ trong việc tìm kiếm một quan niệm mới về các vấn đề triết học. Một mặt, ông nhận thấy hạn chế của các phương pháp cớ học đơn thuần trong việc nghiên cứu các quá trình sinh học. Mặt khác, do sự phát triển thấp của sinh học thời đó, ông đã đi đến tư tưởng bất khả tri phủ nhận khả năng nhận thức của con người về bản chất của sự sống. Quan niệm này càng được củng cố khi Cantơ quá nhấn mạnh sự khác nhau giữa tư tưởng và hiện thực tới mức nhiều khi hoài nghi khả năng nhận thức thế giới của con người. Những mâu thuẫn trên trong thế giới quan của Cantơ thể hiện ở sự trăn trở của một nhà tư tưởng đầy nhiệt huyết muốn xây dựng một cách nhìn mới về thế giới đáp ứng đòi hỏi của thời đại bấy giờ, nhưng lại vấp phải những hạn chế của chính thời đại đó, đặc biệt là xã hội Phổ lạc hậu thế kỷ XVIII. Điều này ảnh hưởng tới triết học Cantơ “thời kỳ phê phán”.

b, Thời kỳ phê phán

Từ sau năm 1770 do ảnh hưởng bởi các biến động xã hội ở Pháp trước cách mạng tư sản (1789 - 1794), cũng như bởi các quan niệm của Lépnít, Vônphơ và đặc biệt là của Hium, thế giới quan của Cantơ chuyển sang “thời kỳ phê phán”, hay còn gọi là “triết học phê phán”. Sở dĩ gọi như vậy vì trước những biến động của xã hội và tư tưởng ở Tây Âu cuối thế kỷ XVIII, Cantơ đã đề ra nhiệm vụ nghiên cứu lại toàn bộ các vấn đề triết học trước đây trên tinh thần phê phán. Ông xác định lại một cách có phê phán các quan niệm từ trước tới giờ về lý tính, và nói chung về các khả năng nhận thức của con người. Bởi lẽ, nhiều tác phẩm triết học lớn của ông thời kỳ này đều thể hiện tinh thần đó, như Phê phán lý tính thuần tuý (1781), Phê phán, lý tính thực tiễn (1788), Phê phán khả năng suy diễn (1790) .v.v.

c, Quan niệm của Can tơ về bản chất đối tượng và nhiệm vụ của triết học

Cũng như Hium, Cantơ coi nhiệm vụ hàng đầu của mình là phải xác định bản chất của con người, cho rằng sở dĩ hiện nay các khoa học vẫn chưa có được một nền tảng phát triển vững chắc, bởi vì "khoa học về con người" vẫn chưa được chú trọng và phát triển đúng mức. Do đó, toàn bộ các vấn đề triết học, phải được hướng vào việc giải quyết những vấn đề của cuộc sống và hoạt động thực tiễn của con người. Triết học cần đem lại cho con người một cơ sở và nền tảng thế giới quan mới, vạch ra những nguyên tắc cơ bản của cuộc sống của con người vì những lý tưởng nhân đạo.

Nếu như Hium xuất phát từ việc quá nhấn mạnh mối quan hệ hữu cơ giữa quá trình nhận thức với thể trạng tâm sinh lý của con người, hầu như quy toàn bộ các vấn đề triết học (thậm trí cả các khoa học khác) thành những vấn đề tâm sinh lý, thì Cantơ hiểu rằng, không thể khám phá ra bản chất đích thực của con người nếu như chỉ dừng lại ở những quan niệm trên, mặc dù chúng mang nhiều tính hợp lý. Quá trình nhận thức cũng như mọi hoạt động khác của chủ thể, dù chịu ảnh hưởng nhiều bởi tình trạng tâm sinh lý, nhưng chúng không hoàn toàn đồng nhất với nhau. Mặt khác, sự phát triển của thực tiễn xã hội và khoa học ở Tây Âu cuối thế kỷ XVIII đã cho phép Cantơ nhận thấy vai trò to lớn của các yếu tố xã hội đối với nhân cách con người.

Cantơ là một trong số ít các nhà tư tưởng từ trước tới giờ hiểu rằng thiếu tri thức thì không ai có thể trở thành một nhà khoa học được, nhưng ngược lại, không thể đạt được điều đó nếu chỉ đơn thuần dựa vào tri thức. Nói cách khác, cần phải bàn đến con người như một chủ thể nói chung, chứ không chỉ riêng hoạt động nhận thức. Triết học rốt cục phải hướng nhiệm vụ chính của mình là giải đáp những vấn đề mà ai cũng băn khoăn trong cuộc đời mình. Ý nghĩa của triết học không dừng lại ở những vấn đề nhận thức luận đơn thuần. Nhấn mạnh tính chất thực tiễn của thế giới quan con người; Ông viết: “sự thông thái nói chung chủ yếu thể hiện trong hành động, hơn là trong tri thức”. Triết học chứa đựng ý niệm về sự thông thái một cách hoàn hảo. Nó phải vạch ra những mục đích tối cao của con người về phương diện các giá trị đạo đức. Cho nên “nếu như tồn tại một khoa học thực sự cần cho con người thì đó là khoa học mà tôi đang dạy, cụ thể là, xác định cho con người một vị trí xứng đáng trong thế giới từ đó có thể học được cái điều mà ai cũng phải học để làm người”. Khoa học đó chính là triết học với mục đích tối cao là xác định bản chất con người. Để làm được điểu đó, nó phải lý giải các vấn đề sau:

“ Tôi có thể biết được cái gì ?

Tôi cần phải làm gì ?

Tôi có thể hy vọng cái gì ?”.

Ba vấn đề trên là sự khái quát những điều mà ai cũng trăn trở trong cuộc sống thưòng ngày. Đồng thời chúng cũng phản ánh ba khía cạnh cơ bản nhất trong mối quan hệ “con người - thế giới”, đó là: nhận thức, thực tiễn và giá trị. Vấn đề thứ nhất đơn thuần mang tính nhận thức luận được nghiên cứu trong triết học lý luận của Cantơ. Vấn đề thứ hai mang tính thực tiễn được nghiên cứu trong triết học thực tiễn, vấn đề thứ ba bao hàm cả khía cạnh lý luận và thực tiễn được nghiên cứu trong thẩm mỹ học của ông. Toàn bộ triết học Cantơ, vì vậy, chứa đựng đầy tinh thần nhân đạo, với mục đích đem lại cho con người một cách nhìn mới về thế giới và chính bản thân mình, đưa con người tới tự do và hạnh phúc. Bản chất của triết học như cách hiểu của Xôcrát, là tự ý thức của con người về chính bản thân mình. Và đối với con người thì cái cao quý nhất là sự tồn tại của bản thân mình, là hạnh phúc của mình. Không thoả mãn với các hệ thống triết học. Trước đây, Cantơ tìm cách xây dựng một hệ thống triết học thực sự mới của mình xuất phát từ những quan niệm trên.

d, Triết học lý luận của Cantơ

Triết học lý luận của Cantơ chủ yếu đề cập đến những vấn đề nhận thức luận và lôgíc học với mục đích xây dựng một nền tảng thế giới quan mới cho con người, xác định đối tượng và giới hạn của tri thức con người hay theo ngôn ngữ của Cantơ, nhằm giải đáp vấn đề “Tôi có thể biết được cái gì ?”. Xem xét lại các quan niệm triết học truyền thống trên tinh thần phê phán, Cantơ “coi nhiệm vụ phê phán này của lý tính tư biện thuần tuý là thay đổi phương pháp nghiên cứu trước đây trong siêu hình học, cụ thể là tiến hành một cuộc cách mạng triệt để trong nó”.

-        Nhiệm vụ cơ bản của triết học lý luận và vấn đề vật tự nó

Chịu ảnh hưỏng mạnh mẽ của sự phát triển khoa học tự nhiên lý thuyết thế kỷ XVII - XVIII, cũng như nhiều nhà triết học cận đại, Cantơ đòi hỏi ở các tri thức khoa học và triết học một sự hoàn hảo tuyệt đối, coi đó là lý tưởng của tri thức con người. Cả ông lẫn Hium và Lépnít đều cho rằng, khoa học thực sự phải dựa trên những tri thức tiên nghiệm (apriori) với hai đặc tính cơ bản là phổ quát và tất yếu. Do chưa thoát ra khỏi quan niệm siêu hình tách rời các mặt đối lập một cách tuyệt đối, Cantơ cho rằng mọi sự vật trong thế giới bên ngoài chúng ta chỉ tồn tại dưới dạng đơn nhất và cá biệt. Điều đó buộc Cantơ phải lựa chọn một trong hai quan niệm.

Thứ nhất, nếu khẳng định mọi tri thức chúng ta đều là sự phản ánh các sự vật của thế giới khách quan bên ngoài, thì phải thừa nhận mọi khoa học và triết học đều chỉ dựa trên những tri thức đơn lẻ, ngẫu nhiên.

Thứ hai, nếu đòi hỏi tính phổ quát và tất yếu của tri thức triết học và khoa học thì phải thừa nhận nguồn gốc của chúng không phải là sự phản ánh hiện thực khách quan, mà là kết quả sáng tạo của riêng trí tuệ con người.

Đứng trước sự lựa chọn trên, Cantơ lập luận, “từ trước tới giờ người ta cho rằng, mọi tri thức của chúng ta đều phải phù hợp với các sự vật. Tuy nhiên, ở đây mọi ý đồ thông qua khái niệm xác lập một cái gì đó tiên nghiệm (apriori) về các sự vật, cái mà có thể mở rộng tri thức của chúng ta về chúng; kết cục đều thất bại. Vì thế... liệu chúng ta sẽ giải quyết những nhiệm vụ của siêu hình học một cách có hiệu quả hơn nếu ta xuất phát từ luận điếm cho rằng, các sự vật phải phù hợp với nhận thức của chúng ta, - và điều này đã đáp ứng hơn với đòi hỏi có được tri thức tiên nghiệm về chúng” . Như vậy, với ý đồ xây dựng nền tảng tri thức tiên nghiệm của khoa học và tri thức, Cantơ buộc phải thừa nhận “vật tự nó” (Ding an sich) không nhận thức được, mọi tri thức con người không phải là sự phản ánh hiện thực khách quan tức “vật tự nó”. “Vật tự nó” được Cantơ hiểu theo mấy nghĩa sau: thứ nhất, đó là sự thể hiện những gì thuộc về lĩnh vực các hiện tượng (Phenomen) (được ông đồng nhất với các kinh nghiệm) mà chúng ta chưa nhận thức được; thứ hai, đó là bản chất của mọi vật khách quan tồn tại bên ngoài chúng ta, mà theo ông thì chúng

 

thuộc về lĩnh vực siêu nghiệm (transendent) và về nguyên tắc - chúng ta không thể nhận thức được; thứ ba, “vật tự nó” ám chỉ những lý tương là chuẩn mực của mọi sự hoàn hảo tuyệt đối mà con người không đạt tới được, nhưng đây là những điều mà nhân loại hàng mơ ước - Chúa, tự do, sự bất diệt của linh hồn. Đây là đối tượng của tín ngưỡng, niềm tin của loài người.

Lẽ dĩ nhiên việc Cantơ thừa nhận “vật tự nó" không nhận thức được không chỉ bởi do tình huống buộc ông phải lựa chọn trên đây, mà còn do nhiều yếu tố khác. Thứ nhất, nhiều nhà tư tưởng trước đó thừa nhận sự tồn tại của Chúa, nhưng giữa họ còn nhiều bất đồng trong việc xác định bản chất và vai trò của Chúa trong thế giới hiện thực. Đây là điểm yếu để nhiều nhà vô thần công kích, phủ nhận sự tồn tại của Chúa. Để cứu vãn tình hình theo tinh thần duy tâm, Cantơ coi Chúa - tự do - linh hồn bất diệt là những cái không thể biết, tức là “vật tự nó”; Thứ hai, bản thân vấn đề quan hệ tư tưởng - hiện thực vẫn luôn là vấn đề phức tạp mà giữa các nhà triết học vẩn chưa có ý kiến thống nhất. “Vào thời Cantơ, sự hiểu biết của chúng ta về những sự vật tự nhiên hãy còn khá vụn vặt, đến nỗi ở đằng sau mỗi sự vật ấy người ta còn có thể cho rằng còn có một "vật tự nó" bí ẩn đặc biệt nữa”. Bên cạnh nhiều mặt hạn chế như Cantơ đặt giới hạn nhận thức con người trước “vật tự nó”, duy trì lập trường nhị nguyên trong quan niệm về thế giới mà Hêghen cũng như các nhà kinh điển Mác - Lê-nin nhiều lần phê phán, thì quan niệm “vật tự nó” của Cantơ vẫn chứa đựng nhiều ý nghĩa tích cực nhất định. Một mặt, nó khẳng định tồn tại các sự vật khách quan bên ngoài chúng ta. Trên góc độ này, theo nhận xét của Lênin, Cantơ thể hiện như một nhà duy vật. Mặt khác, nó khẳng định tính phức tạp, đầy nghịch lý của quá trình con người nhận thức thế giới cũng như mối quan hệ “con người - thê giơi” nói chung.

Quan niệm của Cantơ về “vật tự nó”, theo nhận xét của nhiều nhà nghiên cứu, là cánh cửa đi vào triết học phê phán của ông. Từ đây, ông coi đối tượng của triết học lý luận của mình không phải là nghiên cứu giới tự nhiên như bản thân nó như nhiều nhà triết học trước đây quan niệm, mà là nghiên cứu hoạt động nhận thức của con người xác định những quy luật và giới hạn của trí tuệ con người, biến triết học thành lý luận vể chủ thể. Theo nghĩa đó, ông gọi là triết học tiên nhiệm với nhiệm vụ trước tiên là nghiên cứu con người như một chủ thế hoạt động. Trên cơ sở thừa nhận “vật tự nó”, Cantơ khẳng định triết học và khoa học phải dựa trên các tri thức tiên nghiệm mang tính phổ quát và tất yếu, về cơ bản khác những tri thức kinh nghiệm cảm tính. Ông phân biệt sự khác nhau giữa hai dạng tri thức, suy lý; chẳng hạn "tất cả các loài thiên nga đều màu trắng” với “mọi sự vật đều quảng tính”. Mệnh đề thứ nhất mặc dù cũng mang tính chung nhất và tất yếu nhưng là kết quả quan sát của chúng ta từ xưa đến nay chỉ thấy một loại thiên nga màu trắng. Vì thế nó có thể bị bác bỏ nếu như lúc nào đó ta quan sát thấy có loại thiên nga màu khác, tức là nó vẫn thuộc về kinh nghiệm cảm tính. Mệnh đề thứ hai tiên nghiệm. Nó là kết quả khái quát của tư duy lý luận, cho nên đúng ở mọi thời điểm. Hơn nữa, Cantơ không coi trọng tri thức phân tích, mà lại đề cao trí thức tổng hợp. Sự khác nhau giữa chúng, theo ông, ở chỗ “có thể gọi những mệnh đề dạng thứ nhất là những mệnh đề mang tính giải thích, còn những mệnh đề ở dạng thứ hai - là mở rộng. Vì các mệnh đề dạng thứ nhất, thông qua vị ngữ của mình không bổ sung gì thêm vào chủ ngữ cả, mà chỉ bằng cách phân tích, chia chủ ngữ thành những phần nhỏ hơn, trong khi đó các mệnh đề tổng hợp gia tăng cho chủ ngữ cả một vị ngữ mà trước đó bản thân chủ ngữ không thể có được”. Chẳng hạn, “chó là một động vật có 4 chân”, theo Cantơ, là một mệnh đề phân tích, vì bản thân khái niệm “chó” đã bao hàm đặc tính của một động vật 4 chần rồi. Ở đây, vị ngữ chỉ có tác đụng làm rõ nghĩa thêm cho chủ ngữ. Trong khi “7 + 5 = 12” là một suy lý tổng hợp, vì bản thân (7 + 5) mới ám chỉ tổng của hai số 7 và 5, chứ chưa chỉ ra số nào bằng tổng của chúng.

Tương tự, Cantơ kết luận bản thân toán học và các khoa học tự nhiên đã bao hàm các tri thức, các mệnh đề tiên nghiệm tổng hợp rồi. Có như thế khoa học mới phát triển được. Cho rằng tổng hợp cũng có nghĩa là làm giàu, tạo ra những tri thức mới, Cantơ coi nhiệm vụ cơ bản của triết học lý luận là luận chứng “các mệnh đề tiên nghiệm tổng hợp có được như thế nào ?, tức là làm rõ các tri thức lý luận của khoa học có được như thế nào. ông nhận xét: “Siêu hình học từ trước tới giờ nằm trong tình trạng bấp bênh không đáng tin cậy và mâu thuẫn chỉ bởi một nguyên do là nhiệm vụ trên, và có thể thậm trí cả sự khác biệt giữa các suy lý phân tích và tổng hợp cũng vẫn chưa được ai bàn đến. Sự bền vững hay bấp bênh của siêu hình học là tuỳ thuộc vào sự giải quyết nhiệm vụ này thoả mãn ở việc chứng minh rằng trên thực tế nói chung không thế nào làm rõ được nhiệm vụ trên”.

Việc xác định nhiệm vụ của triết học nhằm luận chứng cơ sở của tri thức lý luận một cách có hệ thống là trong những thành tựu vĩ đại của triết học Cantơ. Dựa trên khuynh hướng duy lý của Đềcáctơ, Lépnít và khoa học tự nhiên thế kỷ XVII - XVIII, hơn ai hết, ông nhận thấy vai trò đặc biệt của tri thức lý luận đối với khoa học, coi đây là nên tảng của quá trình nhận thức chân lý con người. Vì thế, giải quyết nhiệm vụ trên cũng có nghĩa là luận chứng sự tồn tại của các khoa học lý luận thời đó.

-       Quan niệm và cảm tính, không gian và thời gian.

Thừa nhận các hiện tượng cảm tính có được là do các sự vật khách quan bên ngoài tác động vào các giác quan của con người nhưng Cantơ cũng như Hium cho rằng, những gì mà con người biết được về sự vật đều chỉ là hình ảnh, quan niệm của con người về chúng, chít chưa phải bản thân các sự vật tồn tại trên thực tế, cái mà ông gọi “vật tự nó”. Theo ông, vì chúng ta chỉ biết được về sự vật thông qua các giác quan của mình những gì mà sự vật biểu hiện bên ngoài, tức là hiện tượng, cho nên không bao giờ con người có thể nhận biết được bản chất đích thực của sự vật cả. Kể cả những gì mà con người hiện chưa biết nhưng sẽ biết về sự vật cũng bị ông quy về lĩnh vực kinh nghiệm cảm tính, tức hiện tượng luận (và ông gọi dây là những kinh nghiệm khả năng). Tách rời những gì mà con người khám phá ra về sự vật với bản chất đích thực của vật đó là một trong những đặc điểm cơ bản của triết học phê phán. Vì vậy, nhận thức luận (tức triết học lý luận) không phải là nghiên cứu quá trình con người nhận thức, khám phá ra bản chất đích thực của tự nhiên, mà là hoạt động nhận thức của con người như một chủ thể trong khuôn khổ hiện tượng luận. Hiện tượng luận (phenomenologie) là giới hạn mọi tri thức con người.

Nếu như ở thời kỳ “tiên phê phán”, Cantơ còn chịu ảnh hưởng của các quan niệm của Niutơn, coi không gian và thời gian là những cái thuộc về lĩnh vực “vật tự nó”, thì giờ đây trong triết học phê phán của mình, ông coi không gian là hình thức bên ngoài còn thời gian là bên trong của kinh nghiệm cảm tính. Như vậy, chúng đều thuộc lĩnh vực hiện tượng luận. Hạn chế các quan niệm này ở chỗ nó tách rời không gian và thời gian với những hình thức tồn tại của vật chất và quá trình vận động của sự vật, coi chúng là những cái thuộc về lĩnh vực chủ quan của ý thức con người. Tuy nhiên, nó gắn không gian và thời gian với đời sống và quá trình hoạt động của con người, đặt vấn đề về bản chất xã hội của chúng.

 Quan niệm về không gian và thời gian của Cantơ là nền tảng cho các tư  tưởng toán học của ông thời kỳ “phê phán”. Theo ông, các biểu tượng không gian là cơ sở của các tri thức hình học. Mọi lĩnh vực toán học chỉ có thể tồn tại trong khuôn khổ hiện tượng luận. Toán học được coi là một khoa học đặc biệt quan trọng của nhận thức con người dựa trên các tri thức tiên nghiệm tổng hợp.

- Lôgíc học của Cantơ: học thuyết về giác tính và phạm trù

 Nhưng nhận thức luận của Cantơ không dừng lại ở việc phân tích khả năng cảm tính, mà tiếp tục nghiên cứu tư duy, trí tuệ của con người. Điều đó dễ hiểu vì quá trình nhận thức được ông lý giải dưới hình thức chung như sau: khi sự vật bên ngoài ("vật tự nó"), tác động vào các giác quan, tạo ra cho chúng ta những cảm giác đa dạng. Chúng được xếp đặt một cách có trình tự trong không gian và thời gian (ông coi như những hình thức tồn tại của cảm tính) trở thành các tri giác. Những tri giác dĩ nhiên còn mang tính chủ quan và cá thể. Để nó có thể trở thành kinh nghiệm, tức là một cái gì đó khách quan hơn được đông đảo mọi người thừa nhận (Cantơ đồng nhất cái khách quan với cái có giá trị chung mang tính phổ biến) thì cần phải có tư duy dựa trên các khái niệm.

Tư duy là đối tượng nghiên cứu của lôgíc học. Tiếp tục phát triển xu hướng xây dựng một lôgíc mới khác với lôgíc hình thức cổ điển mà Bêcơn, Đềcáctơ đã khởi xướng, Cantơ phân biệt hai dạng lôgíc: lôgíc đai cương (tức lôgíc hình thức) và lôgíc tiên nghiệm. Sự khác nhau giữa chúng ở chỗ “lôgíc đại cương ... xao nhãng với mọi nội dụng của nhận thức, tức mọi quan hệ của nó với khách thể, mà chỉ nhận xem xét hình thức lôgíc..., của tư duy nói chung. Trong trường hợp đó cần phải tồn tại một lôgíc học không lảng tránh với mội nội dung của nhận thức... nó cần phải nghiên cứu cả nguồn gốc của các tri thức của chúng ta về sự vật”. Cantơ chủ yếu đế cập đến lôgíc tiên nghiệm (transendental) vì đây là công cụ nhận thức, là phương tiện làm giàu tri thức tiên nghiệm tổng hợp.

Tư duy sử dụng các khái niệm được Cantơ gọi là giác tính. Đây là hoạt động tư duy khoa học phù hợp với lẽ phải thông thường có nhệm vụ nghiên cứu nguồn gốc và chức năng của quá trình nhận thức, quy tụ sự đa dạng của các tri giác cảm tính dưới sự thống nhất của các khái niệm, và bằng cách đó, biến những tri giác cá nhân thành những tri thức khách quan được mọi người chấp nhận.

Để làm đưọc điều đó, trước tiên giác tính phải xây dựng được một hệ thống các phạm trù. Cũng như Hium, Cantơ coi các phạm trù không phải là sự phản ánh hiện thực khách quan, tức “vật tự nó”, mà là kết quả sáng tạo của riêng giác tính trên quan điểm cơ bản khẳng định rằng con người chỉ nhận thức được những gì do chính mình tạo ra, Cantơ đã đặt hoạt động của chủ thể tiên nghiệm thay thế thực thể của các nhà duy vật lý trước đây.

Nhà triết học Đức đưa ra một bảng gồm 12 phạm trù được chia thành 4 nhóm, cụ thể là:

Các phạm trù trên đây là những khái niệm tiên nghiệm của giác tính mang đặc tính phổ quát và tất yếu, nói cách khác, chúng là những khái niệm định trước của con người về sự vật. Giữa các phạm trù của Cantơ chưa có mối liên hệ lẫn nhau sâu sắc, mặc dù về hình thức trong mỗi nhóm chúng được xếp theo trình tự:

Chính đề - phản đề - hợp đề. Để khắc phục thiếu sót do hạn chế số lượng phạm trù ở trên, Cantơ khẳng định đây là những phạm trù cơ bản, từ đó triển khai thành những phạm trù mới đáp ứng với đòi hỏi của khoa học và hoạt động của con người. “Bởi vì đối với tôi, ông nói - ở đây điều quan trọng không phải là đầy đủ của hệ thống, mà chỉ là sự đẩy đủ các nguyên lý của hệ thống...”. Các phạm trù trên vượt ra khỏi phạm vi ý thức cá nhân bởi đặc tính phổ quát và tất yếu, cũng như tính khái quát cao của chúng.

Sở dĩ các phạm trù của giác tính có được các đặc tính trên vì chúíng dựa trên nền tảng của tự ý thức tiên nghiệm (transendental appersepsia) được hiểu như sự đồng nhất (hay mối liên hệ tổng hợp) của các ý thức cá nhân. Tự ý thức tiên nghiệm, theo quan niệm của Cantơ, đó là “tự ý thức tạo ra cái Tôi suy nghĩ, cái mà có khả năng tạo ra mọi quan niệm còn lại và như nhau trong mọi ý thức”. Đây không phải chỉ là ý thức cá nhân, mà là cấu trúc lôgíc khách quan chung trong các ý thức cá nhân. Nếu không có tự ý thức tiên nghiệm, thì không thể có hệ thống các phạm trù khoa học phổ quát và tất yếu. Vì thế, nó là cơ sở hoạt động cuối cùng của tri thức. Cho nên, mọi “suy lý không là cái gì khác ngoài phương thức đưa tri thức tới sự thống nhất khách quan của tự ý thức”. Các phạm trù chỉ là những hình thức thể hiện cụ thể sự thống nhất tôi cao đó.

Nhưng các cặp phạm trù, theo cách hiểu của Cantơ mới chỉ là đơn thuần là những hình thức, của tư tưởng, mà chưa bao chứa một nội dung nào cả (đây cũng là điểm khác nhau giữa Cantơ và C.Mác trong quan niệm về phạm trù). Vì thế, đế có nội dung và trở thành tri thức, các phạm trù phải được vận dụng vào kinh nghiệm cảm tính. Với luận điểm “tư tưởng thiếu nội dung thì trống rỗng, mà trực quan thiếu khái niệm thì mù quáng”, Cantơ coi nhiệm vụ cơ bản là dùng phép suy diễn tiên nghiệm các phạm trù, tức vận dụng chúng vào kinh nghiệm, quy tụ các tư liệu cảm tính đa dạng dưới sự thống nhất của khái niệm, và bằng cách đó khắc phục những hạn chế của chủ nghĩa duy cảm và duy lý trước đây, ở đây con người, ai cũng có thể dùng phép suy diễn tiên nghiệm trên nhờ hoạt động trí tuệ giác tính của mình, cụ thể là, nhờ một năng lực hoạt động trí tuệ mà Cantơ gọi là khả năng tương tượng có hiệu quả (productive Enbildungskraft). Đây là năng lực bẩm sinh mà tạo hoá phú cho con người, “và thiếu nó thì không thể bù đắp nổi bằng bất cứ trường hợp nào... và người ta gọi điều đó là ngu đần”. Ở đây, Cantơ khẳng định vai trò quyết định của cơ sở sinh lý học đối với tư duy và ý thức con người.

Nhưng để thực hiện được phép suy diễn tiên nghiệm trên, cần tìm ra khâu trung gian gắn liền các phạm trù với kinh nghiệm. Theo ông, đó là thời gian, tức là hình thức bên trong của cảm tính, vì nó là phạm trù nhưng không phải của giác tính mà là của cảm tính. Sự thống nhất giữa tư duy giác tính và kinh nghiệm cảm tính trong thời gian được Cantơ gọi là lược đồ (schema), tính quy tắc hình thành các hình ảnh cảm tính trên cơ sở tiếp cận các phạm trù về chúng. Việc xây dựng các lý luận khoa học phải được tiến hành trên cơ sở sử dụng các lược đồ, chứ không phải các hình ảnh cảm tính trực tiếp. Các biểu đồ tựa như những chữ cái cấu thành ngôn ngữ tư tưởng của toàn bộ hoạt động con người nói chung. Từ đây, con người xây dựng các luận điểm cơ bản của khoa học tự nhiên đưa ra quan niệm của mình về thế giới với phương châm: Giới tự nhiên phải tuân theo các quan niệm của con người về nó, chứ không phải ngược lại. Điều này dễ hiểu, vì ở đây nói đến giới tự nhiên, Cantơ ám chỉ hiện tượng luận, chứ không phải “vật tự nó”. Con người không chỉ là chủ thể nhận thức, mà còn sáng tạo ra các quy luật của tự nhiên bằng chính phép suy diễn tiên nghiệm trên đây của giác tính. Vì vậy ông nhấn mạnh “pháp luật tối cao của tự nhiên cần phải được tìm trong chính chúng ta, nghĩa là trong giác tính của chúng ta". Con người như một chủ thế chỉ nhận thức được những gì mà nó sáng tạo ra. Giác tính, bằng hoạt động của mình, xây dựng lên sự vật theo những khuôn mẫu do nó tạo nên - tức các phạm trù. Khẳng định "vật tự nó" không nhận thức được, Cantơ lý giải nguồn gốc của mọi tri thức con người từ giác tính, chúng là kết quả của phép suy diễn tiên nghiệm các phạm trù của giác tính vào kinh nghiệm cảm tính. Bằng cách đó, các tri giác chủ quan cảm tính của mỗi người trở thành những tri thức khách quan phổ biến, được đông đảo mọi người thừa nhận.

-       Lôgíc học của Cantơ: học thuyết về lý tính và các Antinomia

Nếu như giác tính thoả mãn ở việc nhận thức trong khuôn khổ hiện tượng luận, thừa nhận “vật tự nó” bất khả thi, thì lý tính (tức khả năng trí tuệ cao nhất của con người) lại có khát vọng nhận thức mọi cái một cách chọn vẹn tuyệt đối, bao hàm cả “vật tự nó”. Việc Cantơ lần đầu tiên phân biệt hai cấp độ tư duy trên đây được Hêghen sau này đánh giá cao.

Lý tính (Vernuft) theo nghĩa rộng, được Cantơ hiểu là trí tuệ con người nói chung. Đôi khi ông vẫn coi triết học lý luận là học thuyết về lý tính lý luận, triết học thực tiễn - lý tính thực tiễn, ở đây chúng ta đang bàn đến lý tính mà ông hiểu theo nghĩa hẹp, đó là khả năng trí tuệ mà cao nhất của con người. Đây là đối tượng nghiên cứu của phép biện chứng tiên nghệm, phần thứ hai của lôgíc học tiên nghiệm. Cantơ hiểu phép biện chứng với quan niệm truyền thống từ thời cổ đại như một nghệ thuật tranh luận, coi đó là triết lý hão, bất chấp các quy luật của tư duy. Để phân biệt sự khác nhau đó, Cantơ gọi học thuyết về lý tính là phép biện chứng tiên nghệm.

Lý tính khác với giác tính. Nó muốn xâm nhập cả vào lĩnh vực “vật tự do”, thể hiện khát vọng của con người tới những lý tưởng tuyệt đối. “Bản thân lý tính không tạo ra một khái niệm gì mới mẻ, mà điều lớn nhất là nó giải phóng khái niệm giác tính khỏi những hạn chế không tránh khỏi bởi phạm vi kinh nghiệm khả năng, và đồng thời tìm cách mở rộng nó ngoài giới hạn kinh nghiệm... Điều đó được thực hiện bởi việc lý tính đòi hỏi chỉnh thể tuyệt đối các điều kiện”. Trong khi tầm nhận thức của giác tính con người trong khuôn khổ hiện tượng luận bị chế ước bởi hàng loạt các điều kiện do hạn chế của giác tính, thì con người vẫn luôn khát vọng tới những tri thức tuyệt đối, tới tự do vô điều kiện. Điều này được Cantơ thể hiện dưới dạng các ý niệm của lý tính. Khi nào cảm thấy cơ sở cuối cùng của mọi hiện tượng cảm tính bên trong, khi đó theo Cantơ, chúng ta có được ý niệm linh hồn mà siêu hình học từ trước tới giờ vẫn coi như một thực thể bất diệt và ý chí tự do. Chừng nào chúng ta vươn tới nền tảng tận cùng của mọi sự vật thế giới bên ngoài, về vũ trụ nói chung. Còn khi, con người khát vọng tìm kiếm khởi nguyên tận cùng và tuyệt đối của mọi vật trên thế gian cả về vật chất và tinh thần, thì ta tiếp cận được với ý niệm chúa trời, ở đây cho thấy Cantơ khác với Platôn không hiểu các ý niệm như những thực thể siêu cảm tính tồn tại thực, mà coi chúng như những mục đích, lý tưởng mà nhận thức con người hướng tới. Đây cũng là nhiệm vụ đặt ra cho nhận thức con người. Các ý niệm của lý tính thực hiện chức năng điều chỉnh trong nhận thức, làm thức tỉnh và điều hoà hoạt động của giác tính.

Nhưng việc lý tính con người khát vọng xâm nhập vào lĩnh vực “vật tự nó” để đạt tới tri thức tuyệt đối lại nảy sinh ra những antinomia (mâu thuẫn), do khả năng con người không cho phép làm được việc đó. Các antinomia này, theo Cantơ không phải là những lỗi lôgíc mà con người có thế khắc phục được, mà là những mâu thuẫn không thế khắc phục được có cơ sở trong chính bản chất của lý tính con người. Ông khẳng định tồn tại 4 antinomia cơ bản của lý tính. Mỗi antinomia được cấu từ 2 luận để đối lập nhau, cụ thế là:

Phân tích những vấn đề được đề cập đến trong các antinomia trên đây, ta thấy chúng không phải ngẫu nhiên mà là kết quả khái quát của Cantơ những đề tài chính mà các nhà tư tưởng từ trước tới giờ thường bàn đến. Những luận điểm trong các chính đề chủ yếu thể hiện lập trường của các nhà duy tâm và quyết định luận. Còn những quan niệm thể hiện trong các phản để nhìn chung thể hiện lập trường của các nhà duy vật trước đây và vô định luận. Đây cũng là các antinomia mà toàn bộ triết học trước tới giờ mắc phải.

Thông thường theo cách giải quyết mâu thuẫn từ trước tới giờ là phân tích đúng sai từng về mâu thuẫn, rồi triệt tiêu một trong hai mặt đối lập, tức là thực hiện quy luật loại trừ cái thứ ba. Nhưng Cantơ coi các antinomia trên đây là những dạng đối lập biện chứng theo cách hiểu của ông, vì vậy tuỳ từng trường hợp cụ thể, có thể cả hai mặt đối lập cùng đúng hoặc cùng sai. Xem xét chính đề và phản đề trong các antinomia toán học, Cantơ cho rằng cả hai đều sai, vì đối với thế giới "vật tự nó" nằm ngoài không gian và thời gian thì tất cả các vật tính "giới hạn", "điểm đầu", "đơn giản”, "phức tạp" đều không thể áp dụng, còn thế giới ,hiện tượng luận thì chưa bao giờ thể hiện một cách trọn vẹn. Những hiện tượng (Phenomen) mà ta biết thì chưa đủ để khám phá ra bản chất đầy đủ của nó, vì ngoài những kinh nghiệm (hiện tượng) mà ta đã biết, còn có những kinh nghiệm sau này chúng ta mới biết được. Vì thế, trong các antinomia toán học, “bản thân vấn đề không có ý nghĩa”. Còn trong các antinomia động lực học, do khái niệm “thế giới”.được hiểu theo hai nghĩa khác nhau: Hiện tượng luận (thế giới kinh nghiệm) và “vật tự nó”, nên cả hai vế ;hình đề và phản đề “đều đúng trong những mối quan hệ khác nhau”. Vế nào đúng ở khía cạnh hiện tượng luận thì lại sai ở khía cạnh “vật tự nó”, và ngược lại. Như vậy, việc giải quyết các antinomia ở Cantơ được tóm tắt trong luận điểm của ông: trong các antinomia toán học “cuộc tranh luận này bị bác bỏ bởi vì cả hai chúng (tức chính đề và phản đề - Tác giả) đều dựa trên các tiền đề sai, còn bây giờ trong các antinomia động lực học, có thể chứa đựng một tiên đề phù hợp với rihững kỳ vọng của lý tính và bởi vì người thẩm phán thường bổ khuyết những thiếu sót của mình về các cơ sở luật pháp mà không được hai bên công nhận, nên cuộc tranh cãi có thể thoả đáng với yêu cầu chung, điều mà không thể có được trong các antinomia toán học”.

Dĩ nhiên học thuyết của Cantơ về các antinomia còn nhiều hạn chế. Thứ nhất, ông chỉ thừa nhận mâu thuẫn trong tư tưởng, lý tính con người, chưa thấy được mâu thuẫn có cả ở trong toàn bộ hiện tượng khách quan. Thứ hai, các antinomia trên đây chưa phải là mâu thuẫn biện chứng, vì giữa các vế chính đề và phản đề của chúng chưa có sự thống nhất và chuyển hoá lẫn nhau. Thứ ba, giải quyết mâu thuẫn không chỉ dừng lại ở việc phân tích từng mặt đối lập rồi kết luận từng mặt đúng sai như Cantơ tưởng. Trên thực tế quá trình nảy sinh và giải quyết mâu thuẫn là động lực thúc đẩy sự vật phát triển. Thứ tư, Cantơ đã sai lầm khi hạn chế các số lượng antinomia. Trong khi, Hêghen nhận xét chúng có trong “tất cả các sự vật ở mọi hình thức, trong tất cả các quan niệm, ý niệm và khái niệm”. Tuy nhiên, học thuyết của Cantơ bao hàm nhiều tư tưởng tích cực. Ông đã nhận thấy các antinomia là bản chất khách quan của lý tính con người chứ không đơn thuần là những lỗi lôgíc hình thức thông thường. Cantơ là người đầu tiên tìm cách bao quát toàn bộ những nguyên lý tư duy đối lập nhau của thời đại dựa trên một quan niệm thống nhất, vạch ra những vấn đề còn bỏ ngỏ trong cuộc tranh luận về bản chất của tư duy. Cũng như các apôria của Dênôn, các antinomia của Cantơ đặt ra nhiều vấn đề mang tính nghịch lý của quá trình nhận thức. Vì vậy, “việc tìm ra các antinomia cần phải được xem như một thành tựu quan trọng của nhận thức triết học, bởi vì bằng điều đó... vận động biện chứng của tư duy được đề cao”.

Đối với Cantơ, các antinomia và cách giải quyết chúng của ông trên đây càng chứng tỏ tính tất yếu tư tưởng của ông từ đầu tới giờ khẳng định “vật tự nó” không nhận thức được, mặc dù đó là ý tưởng thể hiện khát vọng cao đẹp của trí tuệ con người. Đó là một nghịch lý khách quan mà nhận thức con người buộc phải chấp nhận. Xưa nay người ta vẫn ngộ nhận tưởng rằng mình có thể nhận thức được “vật tự nó”, nhưng trên thực tế con người đang phải chấp nhận nghịch lý trên. Vì vậy, triết học thực sự không phải là học thuyết về “vật tự nó”, mà là hiện tượng luận. Chủ thể nhận thức chỉ nhận thức được những gì do chính nó sáng tạo ra, trong khuôn khổ của nó - đó là kết luận cuối cùng của triết học lý luận của Cantơ.

e, Triết học thực tiễn của Cantơ.

Nếu như triết học lý luận nghiên cứu các khả năng nhận thức của con người (cảm tính, giác tính, lý tính) xác định giới hạn tri thức của chúng ta, tức làm rõ vấn đề “tôi có thể biết được cái gì ?", thì triết học thực tiễn lại nghiên cứu các nguyên lý hoạt động thực tiễn của con người trong xã hội, giải đáp vấn đề “tôi cần phải làm gì ?”. Lần đầu tiên trong lịch sử, Cantơ hiểu được vai trò quyết định của hoạt động thực tiễn của con người, đặt nó cao hơn lý luận. Xét trong toàn bộ triết học phê phán như một chỉnh thể, thì triết học thực tiễn của Cantơ là mặt đối lập trực tiếp với triết học lý luận của ông. Con người trong triết học thực tiễn cũng chính là con người được bàn trong triết học lý luận, nhưng giờ đây được xem xét ở góc độ hoạt động thực tiễn. Nếu như nhận thức con người chỉ dừng lại ở giới hạn hiện tượng luận, thừa nhận “vật tự nó” bất khả tri, thì trong hoạt động thực tiễn của mình, con người vần thường xuyên tác động đến các sự vật xung quanh ta, coi đó là đối tượng hoạt động của mình. Điều đó làm cho Cantơ cảm thấy mối quan hệ giữa triết học lý luận và triết học thực tiễn của ông trở nên phức tạp. Một mặt, ông mong muốn xây dựng một hệ thống triết học thực tiễn một cách khoa học. Mặt khác, "thực tiễn" theo Cantơ về cơ bản lại độc lập với quá trình nhận thức của con người. Bản thân “thực tiền” cũng được Cantơ hiểu theo nhiều nghĩa. Theo nghĩa hẹp, đó là hoạt động đạo đức của con người. Theo nghĩa rộng, đây là toàn bộ các hoạt động chính trị, pháp quyền, văn hoá... của con người nói chung. Tuy vậy, hoạt động thực tiễn sản xuất của cải cho xã hội hầu như chưa được Cantơ bàn đến. Nhưng triết học thực tiễn của Cantơ không phải không có nhiều giá trị tư tưởng quý báu.

-       Đạo đức học của Cantơ.

Xuất phát từ nguyên lý của Rútxô khẳng định sự độc lập của nhân cách đạo đức với học thức và giáo dục, Cantơ cho rằng các nguyên lý đạo đức độc lập với mọi lĩnh vực hoạt động khác của con người. Nếu như trong triết học lý luận, giác tính là nguồn gốc duy nhất của các phạm trù và các quy luật tự nhiên (được hiểu theo nghĩa hiện tượng luận, chứ không phải “vật tự nó”), thì ở đây lý tính là nguồn gốc duy nhất sinh ra các nguyên lý và chuẩn mực đạo đức. Vì thế, “Các nguyên lý cảm tính nói chung không thích hợp để có thể xây dựng các quy luật đạo đức dựa vào chúng”. Tóm lại, Cantơ theo lập trường duy lý trong đạo đức học, cho rằng các khát vọng cảm tính chỉ đưa con người tới chỗ hưởng thụ cá nhân, ích kỷ, phi đạo đức. “Lý tính có học thức đắm mình vào tư tưởng một cuộc sống hưởng thụ và hạnh phúc bao nhiêu, thì con người càng xa rời với sự mãn nguyện chân chính bấy nhiêu”. Theo ông, đối với nhân cách, đạo đức con người chỉ cần riêng “lý tính thuần túy kiềm chế tính tự ái, hạn chế nó là đủ”.

Nhà sáng lập triết học cổ điển Đức đưa ra nguyên tắc cơ bản của đạo đức là tuân theo mệnh lệnh tuyệt đối, khuyên mỗi người “hành động tối mức tối đa sao cho điều đó trở thành quy luật phổ quát, nghĩa là điều đó được đưa vào cơ sở lập pháp phổ biến”. Chỉ có hành động nào của con người phù hợp với mệnh lệnh tuyệt đối trên đây mới được coi là có đạo đức. Cụ thể mệnh lệnh tuyệt đối trên đòi hỏi hoạt động con người phải tuân theo các quy tắc sau:

-      Mỗi người đều có quyền và cần phải hành động theo điều kiện và ý muốn sao cho ai cũng làm được như thế.

-      Mỗi người đều có quyền và cần phải cho phép những người khác có được quyền như thế và tạo điều kiện để họ thực hiện nó.

-       Mỗi người đều có quyền và cần phải ngăn chặn những người khác hành động trái với mệnh lệnh tuyệt đối trên trong chừng mực có thể làm được.

Mệnh lệnh tuyệt đối của Cantơ hướng mọi người tới hoạt động cộng đồng, đòi hỏi họ sống phù hợp với tự nhiên, tôn trọng mình và mọi người khác, bỏ “thói hà tiện và nhún nhường giả dối”. Người có đạo đức là người sống theo lẽ phải và tồn trong sự thật. Thước đo “lập pháp phổ biến” là cơ hội cho xã hội, trong đó bao hàm cả mỗi công dân. Mệnh lệnh tuyệt đối trên đây còn là nghĩa vụ của mỗi công dân đối với xã hội. “Mỗi người cần phải biến phúc lợi cao nhất mà thế giới có thể có thành mục đích cuối cùng”. Mọi cái đều phải được làm vì con người, bởi vì sự tồn tại của con người là cái cao quý nhất trên thế gian. Mệnh lệnh tuyệt đối của Cantơ là quy luật đạo đức chung đòi hỏi mọi người ở mọi lứa tuổi, tầng lớp xã hội phải thực hiện. Tất cả các công dân đều bình đẳng trước các quy luật và chuẩn mực đạo đức.

Phạm trù trung tâm của đạo đức học ở Cantơ là tự do - lý tưởng cao đẹp mà cả nhân loại hướng tới. Nhà triết học .Đức hiểu tự do theo mấy khía cạnh sau:

-        Thứ nhất tự do là khả năng tiên nghiệm đặc biệt cho phép giác tính hoạt động độc lập đối với quy luật tất yếu của tự nhiên trong lĩnh vực hiện tượng luận.

-       Thứ hai: tự do tồn tại tương đối trong lĩnh vực hiện tượng luận, nơi mà mọi cái đều diễn ra một cách tất yếu.

Ở đây, tự do được coi là tính tất yếu đã được nhận thức.

-        Thứ ba: tự do là cái thuộc lĩnh vực “vật tự nó”. Nếu như trong lĩnh vực hiện tượng luận, tự do chỉ là tương đối, thì lĩnh vực “vật tự nó” là thế giới của tự do.

Như vậy, con người đồng thời sống ở cả hai thế giới: thế giới hiện tượng luận nơi mà mọi cái đều diễn ra theo những quy luật của tự nhiên (được hiểu theo nghĩa của Cantơ) thì tự do con người là thứ yếu, chỉ dừng lại trong khuôn khổ của giác tính; thế giới "vật tự nó", con người được hoàn toàn tự do đối với các quy luật tự nhiên, tự coi mình là mục đích của chính mình, vì vậy không nên coi nó là công cụ của một cái gì khác, ở đây, con người tự nhận,thấy sự tồn tại của mình, tự do của mình là cái cao quý nhất trên thế gian. Và không một cái gì khác, “chỉ có con người và cùng với nó, mỗi người là mục đích của chính bản thân mình. Tự do đó - là lý tưởng đạo đức cao cả nhất của nhân loại. “Ý chí tự do, và ý chí tuân theo các quy luật của đạo đức là như nhau”. Với tư cách là một lĩnh vực chủ yếu thuộc về “vật tự nó" tự do cùng với sự bất diệt của linh hồn và Chúa là những lý tưởng thể hiện sự hoàn hảo tuyệt đối của thế gian, mà con người ai cũng hướng tới trong hoạt động của mình. Chúng là những niềm tin giúp con người thực hiện các quy luật đạo đức.

Tóm lại, đạo đức học của Cantơ tuy có nhiều điểm không tưởng vì tính phi lịch sử, phi giai cấp cũng như thiếu cơ sở hiện thực của nó, nhưng chứa đựng nhiều tư tưởng nhân đạo sâu sắc. Đối lập với quan niệm ích kỷ, thực dụng một cách hẹp hòi, nó là sự kết tinh những giá trị đạo đức chung của nhân loại từ trước tới giờ, đồng thời thể hiện sự khát vọng của giai cấp tư sản tiến bộ ở Đức cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX nhằm giải phóng con người khỏi những gông cùm của chế độ phong kiến hà khắc, xây dựng một chế độ xã hội mới đem lại tự do và hạnh phúc cho mọi người.

-      Triết học lịch sử và pháp quyền

Các quan niệm chính trị - xã hội được coi là đạo đức học ứng dụng của Cantơ, vì tính tích cực của chủ thế đạo đức thể hiện rõ trong các hoạt động xã hội của con người. Chịu ảnh hưởng của các nhà lãnh đạo Cách mạng tư sản Pháp (1789 - 1794), nhất là những người theo phái Giacôbanh, Cantơ cụ thế hoá mệnh lệnh tuyệt đối trong đạo đức học thành yêu cầu “mỗi người hãy hành động sao cho tự do của bạn có thế cùng tồn tại với tự do của tất cả mọi người”.

Dưới con mắt của Cantơ, lịch sử được hiểu là phương thức tồn tại của con người như là một chủ thể. Một mặt, đó là quá trình trong đó bằng hoạt động của mình, con người ngày càng phát triển những khả năng và bản chất của mình. Mặt khác, đây là lĩnh vực để con người thực hiện các mục đích và lý tưởng đạo đức. Vì thế, tiến trình lịch sử nhân loại là sự tiếp tục quá trình phát triển của lịch sử tự nhiên, nó diễn ra theo xu hướng ngày càng tiên bộ và hoàn thiện. Nó sẽ dần dần loại bỗ những gì đi ngược lại điều đó. Cách mạng tư sản Pháp, theo Cantơ là một sự kiện lịch sử điển hình tiêu diệt chế độ chuyên chế đầy bất công và thối nát, mở đường cho xã hội phát triển. Bản thân lịch sử là một quá trình thống nhất, phát triển theo một quy luật nội tại và tất yếu của nó, chứ không phải do chúa trời hay những lực lượng siêu nhiên nào t

Bài viết liên quan