Hình tượng Tổ Quốc trong thơ ca sau cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975


Trước hết cần hiểu đúng khái niệm Tổ Quốc: “Đất nước, được bao đời xây dựng và để lại, trong quan hệ với những người dân có tình cảm gắn bó với nó”

YÊU CẦU

   1. Trước hết cần hiểu đúng khái niệm Tổ Quốc: “Đất nước, được bao đời xây dựng và để lại, trong quan hệ với những người dân có tình cảm gắn bó với nó” (Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê). Nói cách khác, Tổ Quốc bao gồm đất nước (vị trí địa lí), con người và lịch sử dần tộc. (Tuy trong bài làm không nhất thiết phi giải ihích cặn kẽ khái niệm “Tổ Quốc”, nhưng phải tỏ ra hiểu chắc chắn khái niệm này; nếu hiểu không đầy đủ, bài làm sẽ khó tránh khỏi phiến diện).

   2. Chọn được những bài thơ, ý thơ tiêu biểu viết về Tổ Quốc hoặc có phần viết về Tổ Quốc trong thơ ca sau Cách mạng tháng Tám (tức là thơ ca được viết từ khi Cách mạng thành công tới những năm 1983, mà trọng tâm là thơ ca trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ) để làm nổi bật hình tượng Tổ Quốc Việt Nam trong những tác phẩm này.

   Có thể trình bày ba ý chính sau đây:

   - Tổ Quốc tươi đẹp.

   - Tổ Quốc đau thương.

   - Tổ Quốc kiên cường, bất khuất đã anh dũng chiến đấu và chiến thắng.

   3. Lí giải được vì sao hình tượng Tổ Quốc xuất hiện nhiều trong thơ ca sau Cách mạng và nhất là cần lí giải vì sao hình tượng Tổ Quốc lại có những biểu hiện vừa nêu. Ở đây, phải biết vận dụng kiến thức về lí luận văn học (văn học là tấm gương phản ánh đời sông) và kiến thức lịch sử (đây là thời kì dân tộc Việt Nam liên tục phải chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc trước sự xâm lăng của ngoại bang; văn nghệ sĩ nhiều người đồng thời là chiến sĩ) để lí giải vấn đề. Ngoài cũng cần phải thấy được hình tượng Tổ Quốc đã có vị trí như thế nào trong và học, ý nghĩa của nó ra sao đối với hai cuộc chiến dấu và đối với ngày nay (những năm 80 của thế kỉ XX).

   Đề bài này trước hết đòi hỏi học sinh phải có trình độ khái quát, từ những bài thơ, ý thơ cụ thể rút ra được những nhận xét bao trùm, rồi phân tích, chứng minh, lí giải những nhận xét ấy.

(Dĩ nhiên, có thể làm bài theo cách quy nạp hoặc diễn dịch)

BÀI LÀM

   Tổ Quốc là Bà Mẹ lớn nhất của chúng ta. Tổ Quốc cũng là đề tài lớn nhất trong thơ ca nói riêng và văn học nghệ thuật nói chung.

   Thơ ca của chúng ta từ hàng ngàn năm đã viết về Tổ Quốc, và hình tượng Tổ Quốc trong thơ ca từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay là sự kế thừa và phát triển có tính biện chứng của thơ ca truyền thống.

   Đất nước trong thơ ca sau Cách mạng tháng Tám đến nay là đất nước anh hung, anh hùng trong chiến đấu và trong sản xuất, dũng cảm vô song nhưng vẫn nhân ái thiết tha; đất nước tươi đẹp, hiên ngang đứng ở mũi nhọn của lịch sử.

   Có thể nói, chưa hao giờ trong thơ ca của chúng ta, hình tượng Tổ Quốc lại có những phẩm chất cao đẹp và mới mẻ như vậy.

   Hình tượng Tổ Quốc là tượng đài cao đẹp nhất, hùng vĩ nhất trong thơ ca Việt Nam, nó có cả chiều rộng của thời đại mới, của mấy chục năm đánh Pháp và đánh Mĩ, cả chiều sâu yêu nước cùng với yêu thơ ca cùa dân tộc, cả chiều cao của một đất nước từ trong vũng bùn nô lệ đã hiên ngang đứng dậy thắng quân thù, làm nên ngọn hải đăng cho các dân tộc bị áp bức trên thế giới.

   “Thơ ca là sự thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp”. Nói đến Tổ quốc trong thơ ca tức là nói đến đất nước và con người. Đất nước đã sản sinh ra con người, là nơi “chôn rau cắt rốn” của con người và chính những con người đó đã cầm súng, cầm cày để bảo vệ và xây dựng đất nước. Hai yếu tố này trong thơ luôn hoà quyện vào nhau, tác động tới nhau, hành động và suy nghĩ của con người làm nên sự trưởng thành của đất nước và tiếng gọi của đất nước chắp cánh cho hành động và suy nghĩ của những con người yêu nước đó. Hai hình ảnh này gắn bó hữu cơ với nhau và cấu thành một hình tượng chung: Tổ Quốc.

   Tổ Quốc, đó là nơi mỗi chúng ta cất tiếng khóc chào đời, nơi những kỉ niệm ngọt ngào êm đềm nhất in vào chúng ta qua những lời ru: Con cò bay lả bay la...Tổ Quốc, đó là mảnh đất cha ta nằm xuống cùng với đồng đội của mình, là Tháp Rùa rêu phong cổ kính, là Trường Sơn mây mù che phủ, ... Ôi! Ai trong chúng ta chẳng đã có những kỉ niệm gắn bó không thể nào quên được đối với đất nước! Và Ai trong chúng ta chẳng đã từng lặng người đi khi đọc những câu thơ mà hình ảnh, vóc dáng của Tổ Quốc hiện ra thân thuộc đến nao lòng....

   “Thơ là đồng điệu”, “là liếng nói tri âm” (Tố Hữu). “Thơ là tiếng gọi đàn...” (Xuân Diệu). Phải rồi, thơ là tiếng lòng, là ‘‘hình thái nghệ thuật cao quý, tinh vi” để con người tìm đến với con người, con người tìm đến với đất nước thân yêu của mình.

   Trong quá khứ, thơ ca của cha ông chúng ta buồn lắm, bởi vì cuộc đời, bởi vì Tổ Quốc Việt Nam ngày xưa đau khổ lắm:

Cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ      

Văn chiêu hồn từng thấm giọt mưa rơi.

(Chế Lan Viên)                              

   Cũng có những phút mà Tổ Quốc gạt được nỗi buồn đó sang bên, đó là khi quân thù tới xâm lấn bờ cõi đất nước, hào hùng thay lúc Lí Thường Kiệt sang sảng đọc: Nam quốc sơn hà Nam đế cư. Trần Hưng Đạo cùng nhân dân với hào khí viết Đại cáo Bình Ngô mà lòng tự hào Đại Việt lan tới từng con chữ..... Nhưng khi chiến tranh chấm dứt, những áng “thiên cổ hùng văn” đó không làm ta quên được bao số phận đói nghèo sau luỹ tre xanh. Hình ảnh đất nước vất vả vẫn cứ day dứt chúng ta sau từng câu ca dao:

Cái cò lặn lội bờ sông

Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non.

(Ca dao)                         

   Đêm trước của Cách mạng tháng Tám, đất nước có hai triệu ngừơi chết đói Tám mươi năm dài nô lệ đã gây cho đất nước bao đau khổ.

   Cả dân tộc đang tìm đường, cả đất nước đang chuẩn bị vùng dậy. Cái gì sẽ tới đây, rồi tương lai?

Rồi cờ sẽ ra sao?    

Tiếng hát sẽ ra sao?

Nụ cười sẽ ra sao?   

ơi độc lập!             

(Người đi tìm hình của nước, Chê Lan Viên)

   Cách mạng tháng Tám bùng nổ đã làm thay đổi từ bộ mặt đến tâm hồn Tổ quốc. Đất nước đã độc lập tự do, hình ảnh nước Việt Nam hiện ra trong thơ Nguyễn Đình Thi mới oai hùng biết nhường nào:

Súng nổ rung người giận dữ

Người lên như nước vỡ bờ   

Nước Việt Nam từ máu lửa  

Rũ bùn đứng dậy sáng loà.  

(Đất nước)                             

   Thơ ca Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám đến nay đã tạo nên tượng đài tổ quốc với tất cả những phẩm chất cao đẹp: anh hùng vô song trong chiến đấu và sản xuất, dũng cảm tuyệt với mà nhân ái thiết tha, trải bao bão lửa mà vẫn xanh, hiên ngang đứng ở đỉnh cao của lịch sử mà vẫn khiêm tốn, giản dị, chan hoà. Kháng chiến chống Pháp, cả dân tộc đứng đậy, cả đất nước đánh giặc:

Những ruộng vườn mọc lên luỹ thép

Những xóm làng thành bể dầu sôi   

Quân giặc kinh hoàng trên đất chết

Mỗi bước đi lạnh toát mồ hôi.       

(Nguyễn Đình Thi)                           

   Hình tượng đất nước được tập trung ca ngợi qua Việt Bắc, trung tâm của kháng chiến:

Ở đâu u ám quân thù

Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi

Ở đâu đau đớn giống nòi

Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền.

(Việt Bắc, Tố Hữu)                              

   Đất nước bị tàn phá được khắc hoạ qua những chi tiết nhỏ nhặt tưởng như dễ bị qua nhưng lại đọng trong ta nhiều xúc động:

Cha mẹ dìu nhau về nhận đất   

Tóc bạc thương từ mỗi gốc cau.

(Núi Đôi, Vũ Cao)                          

   Cuộc sống kháng chiến, con người kháng chiến được ghi lại nhiều trong thơ. Đó là anh Vệ quốc, bà bầm, bà bủ, chị con gái Bắc Giang, người dân quân... Và một hình ảnh rất đẹp nữa, kết tinh những phẩm chất của dân tộc: đó là Bác Hồ vĩ đại. Đó còn là những cảnh Ngày xuân mơ nở trắng rừng, Ve kêu rừng phách đổ vàng, những đồi cọ, những ngọn núi hết sức thân thuộc với kháng chiến...

   Nhìn chung, thơ ca trong kháng chiến chống Pháp phản ánh trung thực và khá xúc động hình ảnh Tổ quốc. Nhưng các nhà thơ chưa có được cái nhìn cao, rộng về Tổ Quốc. Do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do sự thay đổi, chuyển mình quá đột ngột của đất nước, các tác giả chưa đủ thời gian để nhìn nhận, chiêm ngưỡng đất nước một cách toàn diện, đầy đủ.

   Trong thời kì xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, hình ảnh Tổ quốc được thể hiện như một con ngựa vừa chắc tay súng ở miền Nam, vừa cầm bứa, cầm cày xây dựng cuộc sống mới ở miền Bắc.

   Đất nước đã đổi thay, cảnh đổ nát của chiến tranh vẫn còn nhưng những tiếng ca vui, những sắc hồng của cuộc đời đã có rồi:

Yêu biết mấy, những dòng sông bát ngát

Giữa đôi bờ dào dạt lúa ngô non             

Yêu biết mấy, những con đường ca hát   

Qua công trường mới dựng mái nhà son! 

(Mùa thu mới, Tố Hữu)            

   Cả miền Bắc như một công trường đang thi công rộn rã, ngói mới là một hinh ảnh độc đáo của Xuân Diệu để diễn tả những đổi thay to lớn đó:

Ơi ngàn vạn ngói nói xôn xao       

Như đất ta vui bỗng vọt trào         

Ngói mới! ơi ngàn muôn sức lực     

Trải ra thành rọng, dựng thành cao!

   Nhưng quân thù đâu có để chúng ta yên, ta muốn viết những “dòng tươi xanh” nhưng cũng hãy cứ viết “những dòng thơ lửa cháy”.

   Giai đoạn chống Mĩ là thời kì mà hình ảnh Tổ quốc Việt Nam hiện lên đẹp nhất, cao quý nhất, toàn diện nhất trong thơ ca của chúng ta. Các nhà thơ đều có những sáng tác trực tiếp hoặc gián tiếp về đề tài Tổ quốc. Chế Lan Viên với Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?, Nam Hà với Ta là Việt Nam,... và đặc biệt là Tô Hữu với những bài thơ xuân, những bài thơ ra đời vào những thời điểm nóng bỏng của lịch sử đấu tranh.

   Cảm hứng bao trùm về đất nước là sự ngợi ca, khâm phục. Không ngợi ca khâm phục làm sao được khi một dân tộc bé nhỏ hơn nhiều lần đã dám đánh và đánh thắng kẻ thù? Tố Hữu viết:

Ôi Tổ quốc giang sơn hùng vĩ        

Đất anh hùng của thế kỉ hai mươi.

Chế Lan Viên đặt đất nước, đặt thời đại đang sống vào vị trí cao nhất trong lịch sử:

Những ngày tôi sống đây là những ngày đẹp hơn tất cả

Dù mai sau đời muôn vạn lần hơn!                          

(Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?)

   Lê Anh Xuân, qua hình tượng người chiến sĩ giải phóng quân hi sinh trên đường băng Tân Sơn Nhất, khái quái lên hình tượng dáng đứng Việt Nam, cái dáng đứng tạc vào thế kỉ mà trải qua hàng ngàn năm nay chúng ta mới có được.

Từ dáng đứng của Anh trên đường băng Tân Sơn Nhất

Tổ Quốc bay lên bát ngát mùa xuân.                       

   Cái khí phách, cái anh hùng của người Việt Nam có khi còn được thể y qua những hình ảnh rất đỗi nên thơ:

Ao trường vẫn nở hoa sen        

Bờ tre vẫn chú dế mèn vuốt râu.

(Trần Đăng Khoa)                         

   Sức mạnh Việt Nam được lí giải qua một em bé thôi, chiến tranh ác liệt là thế, chết chóc là thế nhưng em vẫn có một con mất trong trẻo vô cùng. Người chiến sĩ nằm hầm bí mật thì phát hiện ra sức mạnh Việt Nam qua hình ảnh người mẹ đào hầm và chăm sóc cho anh:

Nơi hầm tốì là nơi sáng nhất          

Nơi con nhìn ra sức mạnh Việt Nam!

(Bùi Minh Quốc)                         

   Tố Hữu khắc hoạ hình ảnh Tổ Quốc như một bà mẹ, bà mẹ rất đỗi thân thương của mỗi chúng ta:

Việt Nam, ôi Tổ Quốc thương yêu!   

Trong khổ đau, Người đẹp hơn nhiều

Như bà mẹ sớm chiều gánh nặng     

Nhẫn nại nuôi con, suối đời im lặng...

(Tố Hữu)                                

   Trước kia, Nguyễn Trãi viết Đại cáo bình Ngô cũng mới chỉ thấy được tầm vóc của chiến thắng qua việc non sông sạch bóng quân thù; nhưng giờ đây, các thơ của chúng ta đã thấy được cái lớn hơn, thấy được ý nghĩa quốc tế của chiến đấu ác liệt này:

Ta vì ta, ba chục triệu người   

Cũng vì ba ngàn triệu trên đời.

(Tố Hữu)                              

   Hình tượng Tổ Quốc được thể hiện như là nơi thử thách khốc liệt nhất của thời địa, “Việt Nam vàng của lòng người hôm nay”, Việt Nam trở thành nơi “thử vàng”, là bông sen thơm ngát giữa đầm:

Chúng muốn đốt ta thành tro bụi    

Ta hoá vàng nhân phẩm, lương tâm

Chúng muốn ta bán mình ô nhục     

Ta làm sen thơm ngát giữa đầm.    

(Tố Hữu)                                        

    Việt Nam còn là đất nước của tình thương, của “non nước, thi văn, tư tưởng”. Nguyễn Đinh Thi ví Tổ Quốc như một con sông mạnh, trong, qua rất nhiều thác nghềnh, rất nhiều bão lửa, lại trở lại xanh trong với đôi bờ cỏ cây, hoa lá. Huy Cận ví Tổ Quốc như một dũng sĩ có tâm hồn của một văn nhân:

Đứng vững chãi bốn ngàn năm sừng sững

Lưng đeo gươm, tay mềm mại bút hoa.   

Trong và thực, sáng hai bờ suy tưởng      

Sống hiên ngang mả nhân ái, chan hoà.   

   Tổ Quốc trong thời kì chống Mĩ còn được thể hiện qua hình ảnh Trường Sơn, con đường mòn Hồ Chí Minh và những binh đoàn xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước. Trường Sơn là nơi chúng ta đưa chủ nghĩa anh hùng cách mạng lên đỉnh cao lịch sử, nơi Tổ Quốc hiện ra đẹp đẽ, giản dị, hùng vĩ nhất:

Trường Sơn mây núi lô xô

Quân đi, sóng lượn nhấp ngô, bụi hồng...

(Tố Hữu)                         

   Phải, chúng ta đã đi và chúng ta đã đến, Tổ Quốc trong ngày toàn thắng tuyệt vời:

Ôi, buổi ưưa nay, tuyệt trần nắng đẹp

Bác Hồ ơi! Toàn thắng về ta              

Chúng con đến, xanh ngời ánh thép     

Thành phố tên Người lộng lẫy cờ hoa.  

(Tố Hữu)                              

   Đất nước thống nhất vẹn toàn, hình ảnh Tổ quốc hiện ra toàn bích từ mái xanh đầu nguồn Pắc Bó, tới gót chân hồng mũi Cà Mau.

   Tổ Quốc được thể hiện như một hình tượng đẹp đẽ nhất, cao quý nhất và có những phẩm chất mới mẻ, mang dấu ấn của thời đại, đó là thành công lớn của thơ ca Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám tới nay.

   Trong giai đoạn mới, chúng ta vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa bảo vệ Tổ Quốc xã hội chủ nghĩa trên đất nước đã hoàn toàn thống nhất, Tổ Quốc vẫn là một mảng đề tài rất quan trọng. Chúng ta mơ ước có những bài thơ hay viết về Tổ Quốc, vừa cao đẹp, gần gũi, vừa giàu tính chiến đấu lại vừa hết sức thân tình, thâu tóm được những gì đã qua, nói về những ngày đang sống, vừa hướng chúng ta tới tương lai của Tổ Quốc, ... Bởi vì, nói như Pauxtôpxki: “Niềm của nhà thơ chân chính là niềm vui của người mở đường vào cái đẹp, của người biết đi tới tương lai...”. Chúng ta có quyền hi vọng và chờ đợi ở các nhà thơ chúng ta.

Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học

>> Khai giảng Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2017 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.

Bài viết liên quan